CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về nhân lực Về khái niệm “nhân lực”, theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân thì: “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người – mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động – của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển [1]. Trong các tài liệu hiện nay, khái niệm nhân lực được sử dụng để chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động, bao gồm lực lượng học sinh, sinh viên đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dục. Nói tóm lại, nhân lực là tổng thể những tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách của người lao động theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động của một quốc gia, một địa phương, vùng, miền trong những thời kỳ nhất định.
Như vậy: Nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể những tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách của người lao động theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.2 Vai trò của nhân lực trong doanh nghiệp - Nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đókhông thể nào đạt tới mục tiêu.
- Nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng: Nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. - Nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác 6 nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người [1].2 Khái niệm và vai trò của phát triển nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về phát triển nhân lực trong doanh nghiệp Xã hội phát triển và thay đổi từng giờ, từng phút cho nên yêu cầu đối với chất lượng nhân lực cũng thay đổi theo, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện nay, vấn đề “cạnh tranh” trong sân chơi toàn cầu đang đặt ra thách thức đối với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, kể cả vấn đề phát triển nhân lực.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức yêu cầu nhân lực không chỉ dừng lại ở khả năng đáp ứng đầy đủ về bằng cấp, trình độ, kỹ năng mà còn phải có khả năng học tập suốt đời, kịp thời nắm bắt những đổi thay và yêu cầu luôn đổi mới nhanh chóng của thế giới nghề nghiệp, từ đó, kịp thời thích ứng với nghề mới, ngành mới, cũng là để có đủ sức “cạnh tranh” trong thị trường lao động. Xã hội phát triển dẫn đến nhu cầu phải phát triển nhân lực. Như vậy có thể xem phát triển nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến về số lượng, cơ cấu và chất lượng phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, vùng miền, địa phương…) bám sát định hướng phát triển nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ vậy mà phát triển được năng lực, tạo được công ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, đóng góp chung cho sự phát triển của xã hội. Nói cách khác, phát triển nhân lực là một quá trình chủ động tạo ra sự thay đổi của nhân lực đáp ứng đòi hỏi về nhân lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn phát triển của một quốc gia, vùng miền, địa phương.
Đây là quá trình lâu dài bao gồm hình thức, phương pháp, chính sách và giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn cụ thể. Phát triển nhân lực còn là cách làm tăng giá trị sử dụng con người trong quá trình phát triển con người, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Trong quá trình phát triển nhân lực, cần lưu ý một số chỉ số đánh giá như sau: * Số lượng nhân lực: Nói đến nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia thì cần trả lời câu hỏi “Có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai?”. Sự phát triển về số lượng nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố: những yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài như sự gia tăng cơ học về dân số hay lực lượng lao động do di dân, xuất khẩu lao động…; * Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực thể hiện ở trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v… của người lao động.
Trong 7 các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nhân lực; * Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v… Cơ cấu nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỉ lệ nhất định nhân lực. Ví dụ, cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 – 3 – 1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư; tuy nhiên, đối với nước ta, tình trạng thừa thầy thiếu thợ đã tồn tại từ nhiều năm qua, tức là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn số công nhân kỹ thuật. Phát triển nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.
Trước hết, phát triển nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động tổng hợp được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thẩm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: Giáo dục, đào tạo và phát triển. + Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai.
+ Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiểu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. + Trưởng thành: Là các hoạt động học tập vươn xa ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Lao động là một yếu tố quý của quá trình sản xuất, vì vậy những lao động có trình độ chuyên môn cao sẽ quyết định được việc thực hiện những mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Vì vậy phát triển nhân lực có vai trò rất quan 8 trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp, phát triển về tư duy, kiến thức và trình độ nhận thức cho con người.2 Vai trò của phát triển nhân lực trong doanh nghiệp Có thể thấy rằng hoạt động phát triển nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với tổ chức và người lao động. * Đối với tổ chức: + Để đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức: Công việc của mỗi tổ chức có tính đặc thù riêng, theo quan điểm quản lý riêng nên mặc dù cùng nghành nghề nhưng quá trình thực hiện công việc khác nhau nên việc tổ chức thực hiện công việc cũng khác nhau. + Vì sự tồn tại và phát triển bền vững của tổ chức. + Đáp ứng nhu cầu học tập của người lao động: Đây là một biện pháp tạo động lực lao động bởi mong muốn của con người là phát triển, là hoàn thiện bản thân.
Có thể thấy, phát triển nhân lực giúp cho tổ chức nâng cao hiệu quả công việc, nâng cao tính ổn định, năng động và duy trì, nâng cao chất lượng nhân lực. Nhờ đó tạo lợi thế cạch tranh, tạo điều kiện cho việc áp dụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật. * Đối với người lao động: Tạo sự chuyên nghiệp trong công việc, tạo ra sự thích ứng giữa người lao động với công việc, đồng thời tạo cho người lao động có những cách tư duy mới trong công việc để phát huy tính sáng tạo.3 Nội dung của phát triển nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Quan điểm về phát triển nhân lực trong doanh nghiệp.