phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề án có kết cấu bao gồm 3 phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án và thực tiễn về chất lượng nhân lực kinh doanh tại doanh nghiệp Phần 2: Nội dung đề án nâng cao chất lượng nhân lực khối kinh doanh tại VTS Phần 3: Kiến nghị và đề xuất tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng nhân lực khối kinh doanh tại VTS 1 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nhân lực Kinh doanh của Doanh nghiệp 1. Khái niệm nhân lực Ở bất kỳ thời điểm nào của lịch sử phát triển, nhân lực con người luôn là vấn đề quan trọng, là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc vì nhân lực con người là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự cạnh tranh của đất nước. Vấn đề nâng cao chất lượng nhân lực ngày càng được chú trọng hơn trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
Việc đầu tư để phát triển, nâng cao chất lượng nhân lực con người là đầu tư chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, khi bàn đến nhân lực vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau do nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả nêu một số quan điểm điển hình như sau: Nicholas Henry (1996) cho rằng: “Nhân lực là nguồn lực xuất phát từ con người và nguồn lực này đến từ con người trong một tổ chức (đơn vị, doanh nghiệp hay một quốc gia) cùng có mục đích, chức năng để nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức đó”.Boudreau (1999): “Nhân lực là là sự dung hòa năng lực bên trong trong và bên ngoài của một con người trong lao động để phục vụ hướng đến thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức sử dụng họ” Ở Việt Nam, theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012): “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động”. Phạm Minh Hạc (2011) đã ra khái niệm: “Nhân lực được hiểu là tất cả các yếu tố thuộc về người lao động, bao gồm cả phạm trù về sức khỏe, trí tuệ, phẩm chất và khả năng lao động.” Với cách tiếp cận này, nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con người ở dạng thực tế và tiềm năng tham gia lao động phát triển doanh nghiệp và được doanh nghiệp trả lương.
Theo tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016) thì nhân lực được tiếp cận ở hai phạm vi: nhân lực của tổ chức và nhân lực là cá nhân: “Trong phạm vi của tổ chức, nhân lực là một bộ phận của nguồn nhân lực xã hội. Nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, nhân viên trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, có sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức”. Theo khía cạnh cá nhân con người thì nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà 2 nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người”. Từ các quan điểm trên, tác giả đề án rút ra khái niệm nhân lực trong doanh nghiệp như sau: “Nhân lực trong doanh nghiệp toàn bộ cán bộ, nhân viên được doanh nghiệp tuyển dụng và sử dụng để vận hành và phát triển doanh nghiệp cũng như hướng đến mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra”.
Khái niệm chất lượng nhân lực kinh doanh của doanh nghiệp Chất lượng nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng nhân lực. Một số khái niệm được kể đến như: Theo GS.TS Bùi Văn Nhơn (2010): “Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: Thể lực của nguồn nhân lực là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội là kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiêp, có tinh thần trách nhiệm cao”. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012): “Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là mức độ đáp ứng, phù hợp về bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển của người lao động bao gồm ba yếu tố: Trí lực, thể lực, tâm lực được biểu hiện theo các hoạt động mà doanh nghiệp yêu cầu.
Giữa chất lượng nhân lực và nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng”. Theo Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2019) thì: “Chất lượng nhân lực của Doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động được thể hiện qua các yếu tố như: thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp”. Theo tác giả Đoàn Anh Tuấn (2014): “Năng lực của nhân lực là sự tổng hòa 3 của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người”. Nói một cách khác, tất cả các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc cấu thành nên chất lượng nhân lực.
Trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn; ý thức, tinh thần và tác phong làm việc là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn; trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nhân lực. Theo Đặng Văn Đảo (2024) thì:“Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố như trí tuệ, trình độ, hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, thể lực, thẩm mỹ…, của người lao động hay chính là toàn bộ những năng lực của người lao động biểu hiện thông qua ba yếu tố: Trí lực, thể lực, tâm lực” Như vậy, trong phạm vi đề án tốt nghiệp thì:“Chất lượng nhân lực kinh doanh trong doanh nghiệp toàn bộ những năng lực của người lao động nhằm hoàn thành công việc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ biểu hiện thông qua ba yếu tố: Kiến thức; Kỹ năng; và Thái độ làm việc. Năng lực hoàn thành công việc của nhân lực kinh doanh góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người, doanh nghiệp qua đó đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp”. Nội dung về chất lượng nhân lực kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Kiến thức Kiến thức được hình thành và phát triển thông qua con đường giáo dục, đào tạo và thực tế lao động. Kiến thức của con người chính là kiến thức của nhân loại được mỗi người tiếp thu, kế thừa và phát triển một cách sáng tạo, có chọn lọc. Bên cạnh đó, kiến thức còn thể hiện khả năng tư duy khác nhau mỗi người trong việc vận dụng kiến thức đã học và kinh nghiệm nghề nghiệp vào thực tế.
Kiến thức quyết định phần lớn khả năng lao động và sức sáng tạo của con người. Kiến thức cũng giống như một tấm giấy thông hành giúp chúng ta bước vào cuộc sống. Đối với nhân lực kinh doanh, kiến thức là tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, tư duy, bao gồm: Hiểu biết về cuộc sống những kiến thức chung về xã hội; Sự am hiểu về pháp luật lao động, nội quy, kỷ luật nợi làm việc cũng như những yêu cầu của công việc hàng ngày; Sự hiểu biết về các kiến thức liên quan đến công việc như: sản phẩm, dịch vụ mà công ty cung cấp, các kiến thức marketing, kiến thức về khách hàng, thị trường… Hiểu biết về những thay đổi liên quan đến công việc. Chính 4 những kiến thức, những hiểu biết trên đây sẽ là hành trang để mỗi nhân lực kinh doanh áp dụng vào công việc, nâng cao năng lực làm việc.
Kiến thức của đội ngũ nhân lực kinh doanh được thể hiện thông qua các tiêu chí trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm tích lũy. - Tỷ lệ NLKD qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ: Đây là tỷ lệ thể hiện phần trăm số NLKD đã qua đào tạo từ trình độ sơ cấp/trung cấp trở lên cho đến những người qua đào tạo đại học và trên đại học trên tổng số NLKD có trong toàn doanh nghiệp. Thông qua tỷ lệ này chúng ta có thể thấy được tiêu chí tuyển dụng nhân viên của doanh nghiệp, đồng thời đánh giá được năng lực làm việc tiềm năng, nền tảng kiến thức và chất lượng nhân lực kinh doanh. Với đội ngũ NLKD đã trải qua đào tạo với những kiến thức nền tảng tốt giúp NLKD thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.
- Kinh nghiệm tích lũy là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng lao động kinh doanh của doanh nghiệp. Kinh nghiệm là những vốn kiến thức thực tế mà NLKD tích lũy được trong suốt quá trình học tập và làm việc thực tế. Chính kinh nghiệm là sơ sở để NLKD nâng cao khả năng vận dụng những hiểu biết của mình và quá trình thực hiện công việc, kinh nghiệm cũng góp phần hình thành năng lực thực tiễn của NLKD và làm tăng hiệu quả công việc. Tuy nhiên, kinh nghiệm tích lũy là yếu tố mang tính chất tổng quát và trừu tượng, khó có thể tiếp cận và nắm bắt được.
Đối với NLKD kinh nghiệm tích lũy là hết sức quan trọng nhưng nó không hoàn toàn quyết định thành công của họ. Để đánh giá kiến thức cũng có thể xem xét theo 5 cấp độ.