CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN ODA TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dự án Từ những năm 60 trở lại đây thì nhận thức về dự án bắt đầu hoàn thiện, danh từ dự án được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, các mối quan hệ, mục tiêu, phạm vi khác nhau do vậy cơ cấu tổ chức của dự án cũng tương đối khác nhau. Các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm về dự án.
Mỗi một khái niệm nhấn mạnh một số khía cạnh của dự án cùng các đặc điểm quan trọng của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể. Xét theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải đạt được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và phải theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy theo định nghĩa này thì: dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trìu tượng mà phải cấu trúc nên một thực thể mới Xét về hình thức: Dự án là tập hồ sơ gồm tài liệu, trong đó trình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt động với các nguồn lực và chi phí theo một kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu xác định trong một thời hạn ấn định Xét về nội dung: dự án là một hoạt động đặc thù được thực hiện có mục đích, có phương pháp và định tiến với các phương tiện và nguồn lực đã cho nhằm tạo nên một thực tế mới. Xét trên góc độ quản lý: Dự án là một công cụ hoạch định nỗ lực có thời hạn trong việc sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: Mọi dự án đều có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc khi xác định rõ ràng mục tiêu không thể đạt được và dự án bị loại bỏ; Sản phẩm hoặc dịch vụ mới được tạo ra khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác. Luan van 8 Ngoài ra, trong giáo trình Quản trị dự án, Ths. Phan Thùy Dương, Ths.
Bùi Minh Lý đồng chủ biên (2015) còn đưa ra một số cách tiếp cận về dự án như: Dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách được xác định nhằm mục tiêu là đạt được một kết quả duy nhất, nhưng được xác định rõ Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ duy nhất. Dự án là một tổng thể các chính sách, các hoạt đông và các chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định. Từ những cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến. Khái niệm dự án ODA a.
Khái niệm ODA Cho đến nay chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, nhưng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều, có thể thấy điều này qua một số ý kiến sau: Theo PGS. TS Nguyễn Quang Thái (2010), Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO). Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng ODA có các đặc điểm chính đó là: Do chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ quan chính Luan van 9 thức của một nước; không cấp cho những chương trình dự án mang tính chất thương mại, mà chỉ nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế - xã hội của nước nhận viện trợ; tính ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay.
Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé của mình. Phía còn lại cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho họat động của các công ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước nhận viện trợ. Mặt khác việnh trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia. Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức – ODA (Official Development Assis- tance) là nguồn vốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém phát triển, hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các nước này.
Khái niệm dự án ODA Dự án sử dụng nguồn vốn ODA gọi tắt là dự án ODA: Dự án ODA là dự án hỗ trợ phát triển chính thức, là các dự án thuộc khuôn khổ hoạt động hoạt động phát triển của chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nhà tài trợ. Nguồn vốn: Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn thực hiện dự án ODA là do các tổ chức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương tài trợ. Cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA là cấp phát, cho vay (toàn bộ/một phần) từ ngân sách Nhà nước. Các dự án ODA thường có vốn đối ứng là khoản đóng góp của phía các nước sở tại bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án (có thể dưới dạng tiền đuợc cấp từ ngân sách hoặc nhân lực, cơ sở vật Luan van 10 chất).
Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự án ODA với với các dự án khác; kèm theo nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý về quản lý và thực hiện của nhà đầu tư và nhà tài trợ. Tính tạm thời của dự án vốn ODA: Tính tạm thời có nghĩa là các dự án ODA có khởi điểm và kết thúc xác định. Dự án không phải là loại công việc hàng ngày, thường tiếp diễn, lặp đi lặp lại theo quy trình có sẵn. Dự án có thể thực hiện trong một thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài trong nhiều năm.
Về mặt nhân sự, dự án không có nhân công cố định, họ chỉ gắn bó với dự án trong một khoảng thời gian nhất định (một phần hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án). Khi dự án kết thúc, các cán bộ dự án có thể phải chuyển sang/tìm kiếm một công việc/hợp đồng mới. Tính duy nhất: mặc dù có thể có những mục đích tương tự, nhưng mỗi dự án ODA phải đối mặt với những vấn đề về nguồn lực, môi trường và khó khăn khác nhau. Hơn thế nữa, ở mức độ nhất định, mỗi dự án đem lại các sản phẩm, dịch vụ “duy nhất”, không giống hoàn toàn với bất kỳ dự án nào khác.
Hơn thế nữa, cần phải phân tích thật kỹ lưỡng cũng như có kế hoạch chi tiết trước khi bắt đầu thực hiện. Tính giới hạn: Mỗi dự án ODA được thực hiện trong một khoảng thời gian, nguồn lực và kinh phí nhất định. Các nhà quản lý cần phải liên tục cân bằng về nhu cầu, tài chính, nguồn lực và lịch trình để hoàn thành dự án, đảm bảo yêu cầu của nhà đầu tư và nhà tài trợ. Khái niệm quản lý dự án ODA a.
Khái niệm về quản lý dự án Có khá nhiều khái niệm khác nhau về quản lý dự án: Quản lý dự án là ứng dụng những kiến thức, kỹ năng, các công cụ và các kỹ thuật vào các hoạt động dự án đê đáp ứng yêu cầu của dự án Quản lý dự án là tiến trình phối hợp mọi thứ cần thực hiện để thúc đẩy hoạt động của dự án tiến triển xuyên suốt chu kỳ hoạt động của nó nhằm mục tiêu đề ra. Quản lý dự án là tiến trình quản lý và định hướng những nỗ lực và nguồn lực để hoàn thành một dự án đặc biệt theo trình tự có hiệu quả đáp ứng những mục tiêu Luan van 11 của dự án và sự thỏa mãn của những người liên quan đến dự án. Có thể thấy, dù quản lý dự án được tiếp cận theo khái niệm nào chăng nữa thì cũng bao gồm những khía cạnh cơ bản như: xác định mục tiêu của dự án, xác định nguồn lực, đánh giá các rủi ro, theo dõi, động viên, phối hợp, bàn giao. Vì thế có thể tổng hợp lại: Quản lý dự án là tổng hợp những hoạt động liên quan đến việc xác định dự án, phân tích và lập dự án, triển khai dự án, nghiệm thu và tổng kết dự án nhằm đáp ứng mục tiêu của ban quản lý dự án, nhà tài trợ và các bên liên quan.
Như vậy, quản lý dự án là hoạt động đặc thù mang tính khách quan, trong đó phản ánh toàn bộ chức năng quản trị như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát. Trong khuôn khổ tài liệu này Quản lý dự án ODA là tổng hợp các hoạt động quản lý liên quan đến việc xác định dự án, phân tích và lập dự án, triển khai dự án, nghiệm thu và tổng kêt dự án nhằm đáp ứng một mục tiêu chuyên biệt và quan đó thực hiện mục tiêu chung của dự án. Khái niệm Ban quản lý dự án Theo thông tư Số: 11-BXD/VKT ngày ngày 05 tháng 4 năm 1993 của Bộ Xây dựng Việt Nam.