Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nhân lực ngành Kho bạc Nhà nước Chương 2: Thực trạng phát triển nhân lực ngành Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Giang Chương 3: Một số giải pháp phát triển nhân lực ngành Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Giang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về nhân lực Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng “nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực và kỹ năng con người…ở trong từng cá nhân.
Đầu tư cho con người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững”. Tổ chức Liên hợp quốc (UN) cũng cho rằng “nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng, năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước”. Quan niệm này xem xét nhân lực chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Trên phạm vi quốc gia, nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động [5, 4].
Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể (Vũ Thuỳ Dương, Hoàng Văn Hải, 2008). Nhân lực được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ Luật lao động Việt Nam (nam từ đủ 15 đến 60 tuổi, nữ đủ 15 đến 55 tuổi). Trần Xuân Cầu (2008) đã đưa ra định nghĩa về nhân lực như sau: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển có thể của con người và đến mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động” [3, 10].
Như vậy, có thể thấy khái niệm này đã chỉ rõ được những thành tố chính của nhân lực được con người thể hiện ra trong quá trình hoạt động của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Một khái niệm khác:“nhân lực là tổng hợp thể lực, trí lực, tâm lực của mỗi người được sử dụng trong quá trình thực hiện công việc” (Nguyễn Tiệp, 2005) [13, 19]. Theo khái niệm này, nhân lực được hiểu là: (1) thể lực phản ánh qua tình trạng sức khoẻ; (2) trí lực phản ánh qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng, khả năng làm việc tương ứng với công việc; (3) tâm lực là thái độ của người lao động đối với công việc. Đồng quan điểm trên, Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) định nghĩa:“Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [6, 17]; trong đó, thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, cũng như phụ thuộc vào tuổi tác của từng cá nhân; trong khi đó, trí lực là nói lên những suy nghĩ, hiểu biết, tài năng, năng khiếu, kiến thức, nhân cách, lòng tin của từng cá nhân.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau ở mỗi góc độ tiếp cận nghiên cứu, song luận văn xin tiếp cận dưới góc độ nhân lực trong tổ chức của Mai Thanh Lan (2016): “nhân lực trong tổ chức được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức” [10, 15]. Với khái niệm này, có thể thấy : - Nhân lực của tổ chức bao gồm toàn bộ những con người làm việc cho tổ chức đó, được tổ chức quản lý, sử dụng và trả công. - Nhân lực là một nguồn lực quan trọng nhất của tổ chức cần được đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả. - Nguồn lực của mỗi con người bao gồm có thể lực và trí lực.
Thể lực là sức khoẻ của cơ thể con người, còn trí lực là năng lực trí tuệ của con người, gồm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và ý thức của con người. - Khi xem xét nguồn lực này, tổ chức quan tâm đến các khía cạnh về số lượng/quy mô của nhân lực là bao nhiêu, chất lượng/năng lực như thế nào với cơ cấu ra sao. Trong đó: + Số lượng/quy mô nhân lực thể hiện mức độ nhiều ít và rộng lớn của lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 động trong tổ chức. Tổ chức luôn mong muốn có thể sử dụng nhân lực ở mức tối thiểu.
+ Chất lượng nhân lực là mức độ đáp ứng, thoả mãn nhu cầu sử dụng nhân lực của tổ chức. Để có đội ngũ nhân lực đảm bảo chất lượng, tổ chức cần xác định rõ những yêu cầu về năng lực đối với nhân lực ở từng vị trí, chức danh công việc. + Cơ cấu nhân lực là các bộ phận, cấu phần khác nhau tạo thành đội ngũ nhân lực tổng thể của tổ chức. Cơ cấu nhân lực có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau như giới tính, độ tuổi, vùng địa lý, ngành kinh tế… - Quan điểm của QTNL hiện đại coi nhân lực của tổ chức chính là vốn nhân lực.
Đó là tập hợp năng lực kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng mà mỗi con người tích luỹ được. Khái niệm và đặc điểm nhân lực ngành Kho bạc Nhà nước Theo Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015, Kho bạc Nhà nước (KBNN) là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật. Nhân lực KBNN là tập thể công chức (CC) đang làm việc tại KBNN, trong đó mỗi người là tổng thể năng lực về thể lực, trí lực, tinh thần khác nhau ở dạng tiềm năng và thực tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, nhiệm vụ của ngành KBNN. Cán bộ CC nói chung và cán bộ CC trong hệ thống Kho bạc nói riêng có vai trò rất quan trọng.
Do bởi KBNN là cơ quan kiểm soát thu chi ngân sách. Tầm ảnh hưởng của Kho bạc Nhà nước ở cấp vĩ mô và vi mô, có tác động lớn tới kinh tế xã hội. Chính vì vậy CC ở Kho bạc Nhà Nước Trung ương và KBNN các cấp là những người quyết định tới việc tổ chức huy động và sử dụng nguồn tiền ngân sách, đảm bảo việc ổn định thu chi ngân sách nhà nước và hoạt động của nền tài chính quốc dân. Nhân lực KBNN mang đầy đủ các yếu tố như nhân lực nói chung, nhưng do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đặc thù của hoạt động KBNN nên nguồn nhân lực KBNN cũng bị chi phối bởi đặc điểm do có riêng tại KBNN.
- Thứ nhất, nhân lực KBNN mang nặng tính chất của nhân lực kế toán ngân sách: Với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện công tác hạch toán kế toán về thu, chi ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính do KBNN quản lý, các khoản vay nợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật. Với đặc thù nghề nghiệp, đội ngũ công chức KBNN nói chung và đội ngũ nhân lực làm công tác kế toán nói riêng ngoài việc trau rồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ thì nguyên tắc nghề nghiệp đã tạo nên tác phong đặc thù, đó là: cẩn thận, chính xác và đúng các chuẩn mực. - Thứ hai, nhân lực KBNN phải luôn nắm chắc, kịp thời các văn bản, chế độ, chính sách về quản lý NSNN: Với mục tiêu tập trung kịp thời các khoản thu cho NSNN và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi từ NSNN, việc nắm bắt và tổ chức thực hiện đúng các quy định và quy trình về quản lý NSNN là hết sức quan trọng trong triển khai nhiệm vụ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi cán bộ công chức KBNN phải nắm và hiểu rõ các quy định liên quan về ngân sách Nhà nước, Luật Ngân sách Nhà nước.
Trong đó, đặc biệt quan trọng là kiến thức về quản lý quỹ nói chung và quản lý quỹ ngân sách nói riêng. Các quy định về xét duyệt thu, chi ngân sách nhằm tránh thất thoát, lãng phí cho nguồn ngân sách. Bên cạnh đó, kiến thức về kế toán là không thể thiếu để hoàn thành các công việc tại KBNN. - Thứ ba, nhân lực KBNN có tính chuyên nghiệp cao Sự chuyên nghiệp của KBNN được thể hiện qua sự thông thạo các nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật, có chuyên môn sâu về các lĩnh vực, các nguyên tắc kế toán, quản lý quỹ ngân sách, quỹ tài chính.
Nhờ đó, các thủ tục xét duyệt theo yêu cầu của công việc được rút ngắn về thời gian và công đoạn. Các quy trình nghiệp vụ trong hệ thống KBNN không ngừng được cải tiến, nâng cấp. Một phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng giao dịch, song cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao, do đó hầu hết các quy trình nghiệp vụ trong KBNN đều đã được thực hiện trên các chương trình, phần mềm ứng dụng và thường xuyên được nâng cấp đáp ứng yêu cầu quản lý. Do đó việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai nhiệm vụ chuyên môn đối với nhân lực KBNN là một trong những yêu cầu hết sức cần thiết và trên thực tế, tỷ lệ nhân lực KBNN sử dụng thành thạo các ứng dụng công nghệ thông tin là rất lớn, trừ các vị trí việc làm mang tính chất phục vụ và giản đơn như bảo vệ, lái xe cơ quan.
Khái niệm phát triển nhân lực Phát triển nhân lực là một hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thành công trong môi trường cạnh tranh.