phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Đánh giá thực trạng phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 4.
Mục tiêu và các giải pháp nhằm phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Có rất nhiều bài báo viết về nhà ở và nhà ở xã hội trên các loại báo và tạp chí, trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ nêu một bài tiêu biểu: (1)- Phạm Thái Sơn, 2014. Nhà ở xã hội tại Việt Nam: quan niệm, chính sách và thực tiễn.
Bài báo cho rằng, nhà ở xã hội là một khái niệm còn tƣơng đối mới ở Việt Nam khi mới chỉ chính thức xuất hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây. Là một khái niệm mới thừa kế các quan điểm bao cấp về nhà ở cũng nhƣ chịu ảnh hƣởng bởi các điều kiện hiện tại, khái niệm nhà ở xã hội cũng nhƣ các nội hàm liên quan đến nhóm đối tƣợng thụ hƣởng và điều kiện tiếp cận đã liên tục đƣợc điều chỉnh và bổ sung trong các văn bản pháp luật liên quan. Thông qua việc phân tích các văn bản này, chúng ta có thể nhận thấy một số điểm nghịch lý hoặc mất cân bằng trong phát triển nhà ở xã hội ở nƣớc ta nhƣ số nhóm đối tƣợng thụ hƣởng ngày càng đƣợc bổ sung nhƣng song song với điều đó là các điều kiện tiếp cận quỹ nhà này ngày càng cụ thể và khắt khe. Ngày càng khắt khe hơn với các nhóm đối tƣợng thụ hƣởng nhƣng lại cung cấp ngày càng nhiều ƣu đãi hơn đối với chủ đầu tƣ nhằm khuyến khích sự tham gia cao nhất của các thành phần kinh tế vào phân khúc thị trƣờng này.
Ƣu đãi đầu tƣ nhiều nhƣng hiệu quả xây dựng nhà ở xã hội lại không đƣợc nhƣ mong muốn, thể hiện ở số lƣợng dự án đƣợc đăng ký cũng nhƣ một tỷ lệ rất thấp các dự án đã khởi công và số căn nhà ở xã hội đã hoàn thành và đƣa vào sử dụng. 4 Thông qua những thay đổi, điều chỉnh và bổ sung trong chính sách nhà ở xã hội, có thể thấy việc xây dựng và vận hành thị trƣờng nhà ở xã hội là một quá trình động và vẫn luôn tiếp diễn, trong đó các nhà quản lý cũng lắng nghe những phản hồi và nhu cầu từ các bên tham gia nhằm có đƣợc những bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, do vẫn bị ảnh hƣởng bởi tƣ duy bao cấp về nhà ở cũng nhƣ bị hạn chế bởi những định chế khác nằm ngoài vấn đề nhà ở xã hội nhƣ chế độ sở hữu, quy định về tình trạng cƣ trú…, các thay đổi và điều chỉnh này đôi khi lại không mang tới đƣợc những kết quả phát triển và khuyến khích nhà ở xã hội nhƣ mong muốn. Nhằm phát triển hơn nữa nhà ở xã hội trong tƣơng lai, trong thời gian tới về phía cơ quan quản lý thì Chính phủ và các chính quyền địa phƣơng cần đẩy mạnh triển khai công tác quy hoạch nhằm có đƣợc về quỹ đất dành cho nhà ở xã hội, phân bổ đúng nguồn ngân sách theo quy định dành cho quỹ nhà ở này.
Để thực sự khuyến khích chủ đầu tƣ từ các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nhà ở xã hội, các bƣớc thủ tục hành chính cần đƣợc đơn giản hóa và việc tiếp cận nguồn vốn đầu tƣ cần đƣợc hỗ trợ để hiện thức hóa hơn nữa chứ không chỉ dừng lại ở những cam kết trên văn bản. Đối với ngƣời dân thì cần phải bỏ đi những ràng buộc không hợp lý nhƣ về tình trạng cƣ trú, đồng thời định lƣợng rõ hơn các yêu cầu về điều kiện nhà ở hiện tại cũng nhƣ điều kiện kinh tế và thu nhập hộ gia đình để ngƣời dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận quỹ nhà ở xã hội. Bên cạnh đó có nhiều luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về các chính sách liên quan đến nhà ở, tiêu biểu nhƣ: (2) - Luận án tiến sĩ của Đinh Trọng Thắng, 2012, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển các kênh huy động vốn đầu tư nhà ở đô thị Việt Nam.
Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung các vấn đề lý luận về phát triển các kênh huy động vốn đầu tƣ nhà ở đô thị; xây dựng khung phân tích để đánh giá 5 tác động của các nhân tố và điều kiện đến sự hình thành và phát triển các kênh huy động vốn đầu tƣ nhà ở đô thị Việt Nam; luận án đã đánh giá thực trạng phát triển, cấp độ phát triển, điều kiện phát triển và các chính sách phát triển các kênh huy động vốn đầu tƣ nhà ở đô thị. Luận án đã cập nhập, mô hình kinh tế lƣợng để đánh giá các nhân tố tác động đến sự lựa chọn kênh huy động vốn đầu tƣ nhà ở đô thị cấp hộ gia đình ở Việt Nam, mà theo tác giả ở mức thu nhập 15 triệu đồng/ngƣời/tháng là ngƣỡng đủ khả năng tiếp cận các khoản vay thế chấp mua nhà ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã dự báo và đề xuất lộ trình phát triển các kênh huy động vốn đầu tƣ nhà ở đô thị tại Việt Nam dựa trên việc đánh giá điều kiện và nhân tố phát triển. Từ đó, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chính sách nhằm tạo dựng và phát triển các kênh huy động vốn đầu tƣ nhà ở đô thị tại Việt Nam trong thời gian tới.
(3)- Luận văn thạc sĩ, của tác giả Nguyễn Thị Hằng, 2013. Đại học Quốc gia Hà Nội. Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở Việt Nam. Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp.
Phân tích thực trạng sử dụng giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp ở Việt Nam. Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng giải pháp tài chính để phát triển nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp ở Việt Nam: chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách giá, thành lập quỹ tiết kiệm nhà ở. (4)- Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thanh Tùng, 2002. Tín dụng ngân hàng với việc phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn đô thị Hà Nội.
Tác giả đã đề cập Lý luận cơ bản về nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp và tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp tại đô thị.Thực trạng nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp và tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp trên địa bàn đô thị Hà Nội.Một số giải pháp đẩy mạnh tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nhà ở cho ngƣời thu nhập thấp. 6 Ngoài ra còn nhiều bài báo, luận văn, luận án, các công trình khoa học nghiên cứu về chính sách nhà ở và nhà ở xã hội đã công bố ở trong và ngoài nƣớc mà tác giả chƣa nêu ở đây hoặc chƣa tiếp cận đƣợc. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Quyền có nhà ở là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời đƣợc các tổ chức quốc tế quy định trong các điều ƣớc. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền về các quyền cơ bản của con ngƣời đƣợc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp; Ðiều 25, khoản 1 ghi rõ: “Mọi ngƣời đều có quyền đƣợc hƣởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.” Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đƣợc thông qua và để ngỏ cho các nƣớc ký, phê chuẩn và gia nhập có hiệu lực từ ngày 3/01/1976, tại Điều 11.
Khoản 1 có ghi: “Các quốc gia thành viên Công ƣớc này thừa nhận quyền của mọi ngƣời đƣợc có một mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình mình, bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, nhà ở, và đƣợc không ngừng cải thiện điều kiện sống. Các quốc gia thành viên phải thi hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm việc thực hiện quyền này, và vì mục đích đó, thừa nhận tầm quan trọng thiết yếu của hợp tác quốc tế dựa trên sự tự do chấp thuận. Công ước về quyền trẻ em, theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, có hiệu lực từ ngày 2/9/1990, Điều 27, khoản 3 tiếp tục nhấn mạnh về quyền có nhà ở: “Các quốc gia thành viên, phự 7 hợp với điều kiện của nƣớc mình và trong phạm vi các phƣơng tiện sẵn có của mình, phải thi hành các biện pháp thích hợp để giúp đỡ các bậc cha mẹ và những ngƣời khác chịu trách nhiệm về trẻ em thực hiện quyền này, và trong trƣờng hợp cần thiết, phải thực hiện những chƣơng trình hỗ trợ và gíup đỡ vật chất, đặc biệt là về dinh dƣỡng, quần áo và nhà ở. Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ, đƣợc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết A/RES/45/158 ngày 18/12/1990, tại điều 43, khoản 1, tiếp tục nhấn mạnh Ngƣời lao động di trú đƣợc đối xử bình đẳng nhƣ công dân của quốc gia nơi có việc làm liên quan đến:.(d) quyền có nhà ở, kể cả quyền sử dụng các chƣơng trình nhà ở và xã hội, và đƣợc bảo vệ khỏi việc bóc lột liên quan đến tiền thuê nhà.
Nhƣ vậy, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhà ở nói chung và nhà ở xã hội nói riêng. Nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh .