CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NHÀ Ở VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP 1.1 Đô thị hóa và sự gia tăng dân số 1.1 Quá trình đô thị hóa 1.1 Khái niệm Đô thị hóa là vấn đề quan trọng mang tính chất thời đại đối với các quốc gia trên thế giới. Để có thể đi sâu nghiên cứu, đưa ra các giải pháp khả thi, tránh tổn hại ít nhất do đô thị hóa không kiểm soát được mang lại thì câu hỏi đầu tiên phải trả lời là đô thị hóa là gì? Xoay quanh khái niệm này có rất nhiều cách trả lời, nhiều tác giả đã đưa ra ý kiến của mình. Tuy vậy vẫn cần thiết phải đề cập vì khái niệm này vẫn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh từng quốc gia. Ở Trung Quốc, đô thị hóa được quan niệm là một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử về tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố.
Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư của nông dân nông thôn đến các đô thị và quá trình phát triển của bản thân các đô thị. Họ cũng cho rằng, trong thực tế đô thị hóa là một quá trình phức tạp hơn nhiều. Bởi tiến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu của tình trạng quá nóng và những vấn đề tiềm ẩn, như áp lực gia tăng đối với việc làm và an ninh xã hội, tình trạng bong bóng xà phòng trong lĩnh vực bất động sản buộc Chính phủ Trung Quốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một cách cẩn trọng và từng bước kiểm soát đối với quá trình đô thị hóa. Theo quan điểm của Nhật Bản, khái niệm đô thị hóa dựa trên tổng số dân cư trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông.
Nghiên cứu thực tế nước Nhật cho thấy đô thị hóa không đơn thuần là một hiện tượng xảy ra sau chiến tranh ở Nhật Bản mà là một quá trình trình diễn ra từ đầu thế kỷ XX. Sau năm 1945, quá trình đô thị hóa diễn ra ở Nhật Bản khá rõ do yêu cầu của việc tái thiết nhanh chóng sau chiến tranh và tăng trưởng kinh tế đã đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, cùng với sự di chuyển của một lượng lớn dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị, chủ yếu những người đi tản cư quay về. Quá trình này diễn ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 do người nhập cư mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn. 123doc 2 GVHD: TS.
Nguyễn Văn Sáng HVTH: Nguyễn Thiệu Thành Để một vùng nào đó được gọi là đô thị, Nhật Bản có các yêu cầu sau: - Phải có dân số trên 50. - Số nhà ở, ở khu vực trung tâm của thành phố phải chiếm tới 60% tổng số nhà của toàn thành phố. - Số người ngụ cư ở thành phố làm việc trong các ngành công nghiệp, thương mại. và các thành viên trong gia đình của họ phải chiếm hơn 60% tổng dân cư.
Hàn Quốc cho rằng đô thị hóa là sự gia tăng dân số chủ yếu từ nông thôn ra thành thị mà trước đây, thế hệ trẻ rời bỏ nông thôn với mục đích tìm kiếm việc làm, cơ hội giáo dục và những thú vui, tiện nghi nơi đô thị, trong giai đoạn ban đầu công nghiệp hóa (1967-1975). Ở Hàn Quốc, một tỉnh có trên 50.000 cư dân sẽ được gọi là "thành phố" (Si) và một khu vực nông thôn có trên 20.000 cư dân sẽ là khu vực dân cư có tên là "Uhr" (có lẽ do Hàn Quốc đã đô thị hóa đạt mức cao, 80% dân cư của quốc gia này tập trung ở thành phố). Ở Malaysia, quan niệm khu vực đô thị được định nghĩa như sau: - Những khu vực hành chính có mật độ nhà cửa dày đặc với 10.000 dân trở lên vào thời điểm điều tra dân số. - Những khu vực mật độ nhà cửa xây dày đặc tiếp giáp với khu vực hành chính và có ít nhất 60% dân số (tính những người từ 10 tuổi trở lên) tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp, và nhà ở của họ có các phương tiện vệ sinh hiện đại.
Ở nước ta, khu vực thành thị được xác định bao gồm các quận nội thành, các phường nội thị và thị trấn; tất cả các đơn vị hành chính còn lại (xã) đều thuộc khu vực nông thôn. Đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra với tốc độ cao, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội; hoặc các tỉnh thuộc các vùng kinh tế trọng điểm như Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu. Quá trình này vốn đã có từ lâu trong lịch sử nhưng thật sự tăng tốc từ những năm đổi mới, 1986 đến nay. Tốc độ đô thị hóa càng về sau càng lớn.
Tuy vậy, việc nghiên cứu về đô thị hóa chưa thực sự quan tâm đúng mức. Trong những công trình đã có thường ít nghiên cứu lý thuyết mà đa số mô tả, tổng kết thực trạng đô thị hóa ở một số thành phố. Tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, khái niệm đô thị hóa được đề cập có thể chưa giống nhau nhưng thống nhất ở chỗ, có hai thành tố luôn được nhắc tới: Luận văn Thạc sĩ: Phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Giai đoạn 2011 - 2020 123doc 3 GVHD: TS. Nguyễn Văn Sáng HVTH: Nguyễn Thiệu Thành - Một là, đô thị hóa là sự tăng lên của cư dân đô thị.
Sự tăng lên này theo 3 dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn ra thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị. Ba dòng này có vai trò và vị trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể. - Hai là, đô thị hóa mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc. Mở rộng không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình đô thị hóa.
Đó cũng có thể, đô thị sát nhập vào đô thị hoặc đô thị hóa mở rộng đô thị ra ngoại thành hoặc lân cận. Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính lịch sử, tuỳ từng quan niệm của mỗi quốc gia. Mới đây, Nghị quyết số 05/NQ-CP ngày 05/02/2010 của Chính phủ đã điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai như sau: Điều chỉnh toàn bộ 10.899,27 ha diện tích tự nhiên và 92.796 nhân khẩu của các xã: An Hoà, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước của huyện Long Thành vào thành phố Biên Hoà quản lý. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Biên Hòa có 26.407,84 ha diện tích tự nhiên và 784.398 nhân khẩu, có 30 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường: An Bình, Bửu Hòa, Bình Đa, Bửu Long, Hoà Bình, Hố Nai, Long Bình, Long Bình Tân, Quyết Thắng, Quang Vinh, Thanh Bình, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Biên, Thống Nhất, Tân Hiệp, Tân Hòa, Tân Mai, Tân Phong, Tân Tiến, Tân Vạn, Trảng Dài, Trung Dũng và 07 xã: Hóa An, Hiệp Hòa, Tân Hạnh, An Hòa, Long Hưng, Phước Tân và Tam Phước.
Từ những quan niệm trên đây, qua tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả bước đầu đưa ra khái niệm đô thị hóa như sau: Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi một khu vực, một vùng nào đó từ “chưa đô thị" thành "đô thị", những vùng hoặc khu vực đó có thể là vùng ven đô hay ngoại thành, có thể là thị trấn hoặc thị tứ. Biểu hiện của đô thị hóa có thể là từ việc mở rộng không gian, diện tích đến việc thu hút luồng di cư của cư dân, không nhất thiết từ đô thị trung tâm mà từ cả những vùng khác, nhất là nông thôn trong cả nước. Như vậy, biểu hiện đô thị hóa dễ thấy là sự mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc và sự tăng lên của dân nhập cư từ nhiều luồng khác nhau tạo nên sự tập trung dân cư lớn trong một thời gian nhất định. Dân cư vùng đô thị hóa ở Đồng Nai trước hết là dân cư tại vùng được đô thị hóa, hai là dân cư di chuyển từ nội thành ra vùng ven do vùng nội thành quá tải hoặc đến vùng ven để lập nghiệp phát triển kinh tế, và một luồng dân cư rất lớn chảy về từ nông thôn của tất cả các vùng trong cả nước.
Do đó, về mặt dân cư có thể xem đô thị hóa là một quá trình phức tạp bố trí lại dân cư, sắp xếp lại lao động. Luận văn Thạc sĩ: Phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Giai đoạn 2011 - 2020 123doc 4 GVHD: TS. Nguyễn Văn Sáng HVTH: Nguyễn Thiệu Thành Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng làm cho đô thị đang ổn định lại phải tiếp tục mở rộng không gian ra vùng ven, đó là một quá trình liên tục. Quá trình này chỉ kết thúc khi đô thị đã đi vào ổn định.2 Phân loại đô thị hóa Quá trình đô thị hóa trong lịch sử có thể phân loại thành các hình thức như sau: - Đô thị hóa thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hóa diễn ra ngay chính trong đô thị.
Ở đây cũng có sự di dân nhưng từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô. Đô thị hóa thường vẫn mang tính chủ quan thông qua quy hoạch. Quy hoạch đô thị cho phép con người tạo ra những đô thị tối ưu theo ý muốn. Tuy nhiên, đô thị được quy hoạch là tối ưu đến mấy vẫn chắc chắn lạc hậu trong tương lai do cư dân tăng lên, kết cấu hạ tầng, kiến trúc đô thị.
lần lượt lạc hậu. Đặc biệt các công trình công nghiệp, dịch vụ. theo thời gian trở nên lạc hậu và gây ô nhiễm nặng nề, phải di dời xa thành phố. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 3.760 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm trong khu vực đô thị, khu dân cư tập trung, trong đó bước đầu đã xác định được 261 cơ sở có vị trí hoạt động không phù hợp quy hoạch phát triển đô thị, 117 cơ sở vừa có vị trí hoạt động không phù hợp quy hoạch phát triển đô thị vừa gây ô nhiễm môi trường, 8 cơ sở gây ô nhiễm môi trường.
UBND tỉnh Đồng Nai đã giao Sở Công Thương xây dựng Đề án hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải di dời.