CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH BÁO CHÍ 1.1 Khái niệm, vai trò công tác phát triển nguồn nhân lực trong ngành báo chí 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực ngành báo chí Thuật ngữ nguồ n nhân lực (hurman resourses) xuấ t hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi những người quản lý trong các tổ chức bắt đầu có nhận thức về vai trò trung tâm của người lao động trong nền kinh tế. Theo cách nhìn nhận chung, nguồ n nhân lực không chỉ là những người trong độ tuổ i lao động có khả năng lao động như các quy định của các quốc gia mà bao gồm tất cả những người cung ứng sức lao động. Nguồn nhận lực cũng được nghiên cứu rộng hơn ở cả khía cạnh số lượng, chất lượng và nhiều khía cạnh khác liên quan đến nguồn lực con người trong nền kinh tế.
Theo đinh ̣ nghiã của Liên hơp̣ quố c trong đánh giá về những tác động của toàn cầ u hóa đế n nguồ n nhân lực (2009): “nguồ n nhân lực là trình độ lành nghề , là kiế n thức và năng lực của toàn bộ cuộc số ng con người hiện có thực tế hoặc tiề m năng để phát triể n kinh tế , xã hội trong một cộng đồ ng”. Theo đinh ̣ nghiã tương tự, nguồ n nhân lực đươc̣ hiể u theo nghiã “ bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào ta ̣o và những sự tận tâm, nỗ lực hay bấ t cứ đặc điể m nào khác ta ̣o ra giá tri ̣ gia tăng và năng lực ca ̣nh tranh cho tổ chức của những người lao động” (George Milkovich và John Boudreau, 1997). Theo cách tiếp cận tổng quát về nguồn lực quốc gia, nguồn nhân lực được định nghĩa là “toàn bộ những người trong độ tuổi và có khả năng tham gia lao động” (ILO, 2003). Khái niệm này được sử dụng ở khá nhiều quốc gia thể hiện quy mô, khả năng của nguồn lực con người trong phát triểnt nền kinh tế.
Tổ chức Ngân hàng thế giới (WB) xác định nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực đầu vào của quá tình sản xuất. Tuy nhiên, sự tham gia của nguồn lực này trong quá trình sản xuất không giống như vốn bằng tiền, công nghệ hay các tài nguyên khác bởi có thể chủ động khai thác, sử dụng và duy trì các nguồn lực còn lại để tạo ra giá trị cho xã hội. Từ đó, định nghĩa nguồn nhân lực của WB hướng tới những yếu tố cấu thành nên chất lượng lao động bao gồm thể lực, trí lực … của mỗi cá nhân. 8 Theo cách tiếp cận hẹp hơn của David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbush, nguồn nhân lực chỉ bao gồm trí lực hay trình độ chuyên môn của người lao động.
Đây cũng chính là nền tảng mang lại thu nhập cho cá nhân và xã hội. Kiến thức, kỹ năng chuyên môn giúp người lao động có thể tạo ra sản phẩm là gốc rễ của của cải, tài sản (David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbush, 2008). Phát triển hơn định nghĩa của WB, Trần Kim Dung cũng đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực xoay quanh chất lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động có đủ thể lực, trí lực và tâm lực (là những phẩm chất, thái độ, phong cách lao động) (Trần Kim Dung, 2006, tr128). Theo GS Phạm Minh Hạc định nghĩa nguồn nhân lực của Trần Kim Dung được bổ sung thêm nhằm “đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định” tuỳ theo khu vực xem xét như vùng địa lý hoặc ngành kinh tế… (Phạm Minh Hạc, 1996).
Tác giả Nguyễn Hữu Thân thì cho rằng, nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người tham gia quá trình lao động, đảm bảo chất lượng lao động (Nguyễn Hữu Thân, 2003, tr63). Theo hướng tiếp cận đánh giá, ý kiến khác cho rằng nguồn nhân lực là lực lượng lao động, nguồn lực cốt lõi, quan trọng nhất cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội (Nguyễn Tiệp, 2008). Tổng hợp hơn, định nghĩa về nguồn nhân lực có thể là: “nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội”. Nguồn nhân lực luôn xác định được cả về số lượng, chất lượng (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh chủ biên, 2008): Như vậy khái niệm nguồ n nhân lực (NNL) đã được các nhà nghiên cứu đưa ra với nhiều cách tiếp cận và khía cạnh khác nhau cả về nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Các định nghĩa có sự nghiên cứu, kế thừa và phát triển từ quan điểm của những người đi trước. Từ đó, ta có định nghĩa về “nguồn nhân lực” là tất cả con người tham gia lao động với những tiềm năng nhất định về thể chất, trình độ chuyên môn, kỹ năng cũng như phẩm chất đạo đức giúp cho tổ chức tạo ra giá trị cho xã hội và nền kinh tế. Từ những quan niệm nêu trên, rút ra: Nguồ n nhân lực không chỉ đơn thuầ n là lực lươṇ g lao động đã có và sẽ có, mà đó là cả một tập hơp̣ gồ m nhiề u yế u tố như trí tuệ, sức lực, ki ̃ năng, phong cách nghề nghiệp và năng lực làm báo. gắ n với sự tác 9 động của môi trường đố i với lực lươṇ g lao động đó.
Nguồ n nhân lực là nguồ n lực quan tro ̣ng nhấ t trong bấ t cứ tổ chức nào và chiụ ảnh hưởng của cả yế u tố tự nhiên và xã hội. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa về nguồ n nhân lực ngành báo chí: là tấ t cả tất cả nguồn lực lao động của tổ chức hoạt động trong lĩnh vực báo chí với những đặc thù riêng có trình độ lành nghề, kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu công việc của ngành báo chí bao gồm những người đã, đang và sẽ làm việc trong một khoảng thời gian nhất định trong một cơ quan, tổ chức báo chí, bao gồ m cả những cán bộ quản lý từ Tổ ng biên tập các Phó Tổ ng biên tập, trưởng, phó các phòng ban của Báo, đặc biệt là đội ngũ phóng viên và biên tập viên. Nguồn nhân lực ngành báo chí là yếu tố cấu thành nên tổ chức, cơ quan báo chí, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các toà soạn. Bởi báo chí là ngành dịch vụ nên nhân lực chiếm vị trí trọng tâm trong hoạt động của toà soạn.
Vì vậy, tất cả những yếu tố liên quan đến nhân lực ngành báo chí đều là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Mục tiêu của nhà quản lý luôn hướng tới việc làm thế nào để có được đội ngũ nhân lực vững mạnh hay nói cách khác là một lực lượng những người lao động phù hợp và đáp ứng công việc một cách hiệu quả nhất. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực ngành báo chí * Phát triể n Là các hoa ̣t động ho ̣c tập vươn ra khỏi pha ̣m vi công việc trước mắ t hoặc một cách tiế p cận khác, một góc nhìn khác với công việc trước mắ t của người lao động, nhằ m mở ra cho ho ̣ những công việc mới, cách tiế p cận mới dựa trên cơ sở những đinh ̣ hướng tương lai của người lao động và của tổ chức. Như vậy phát triể n là các hoa ̣t động ho ̣c tập nhằ m cung cấ p, củng cố , làm tăng thêm những kiế n thức, kỹ năng, năng lực cho người lao động để phù hơp̣ với công việc hiện ta ̣i và khi ho ̣ chuẩ n bi ̣bước vào công việc mới với những đòi hỏi, yêu cầ u cao hơn về trình độ chuyên môn lành nghề trong công việc.
Phát triể n chủ yế u là chuẩ n bi ̣ cho người lao động những kiế n thức kỹ năng về công việc trong tương lai. * Phát triể n nguồ n nhân lực Cũng giố ng như khái niệm nguồ n nhân lực, khái niệm phát triể n nguồ n nhân lực cũng đươc̣ hiể u theo nhiề u quan điể m khác nhau: 10 Theo ILO (International Labour Organization–Tổ chức Lao động quố c tế ) “phát triể n nguồ n nhân lực bao hàm không chỉ là sự chiế m liñ h trình độ lành nghề hoặc ngay cả vấ n đề đào ta ̣o nói chung mà còn là phát triể n năng lực và sử du ̣ng năng lực đó của con người để tiế n tới có đươc̣ việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc số ng cá nhân”. Quan điể m này xem xét phát triể n nguồ n nhân lực ở một pha ̣m vi rộng. Nó không chỉ ở phương diện trình độ lành nghề mà là phát triể n năng lực theo nghiã đầ y đủ cho người lao động.
Sự lành nghề theo ho ̣ là quá trình hoàn thiện nhằ m bổ sung, nâng cao kiế n thức trong quá trình số ng và làm việc nhằ m đáp ứng những kỳ vo ̣ng của con người. Theo McLean & McLean (2000), “Phát triể n nguồ n nhân lực là bấ t cứ quá trình hay hoa ̣t động nào nhằ m phát triể n những kiế n thức làm việc cơ bản, sự tinh thông, năng suấ t, và sự hài lòng mà cầ n cho một đội, nhóm, cá nhân hoặc nhằ m mang la ̣i lơị ích cho một tổ chức, cộng đồ ng, quố c gia hay tóm la ̣i là cầ n cho toàn nhân loa ̣i”. Theo Swanson and Holton III, (2001) “Phát triể n nguồ n nhân lực là một quá trình phát triể n và thúc đẩ y sự tinh thông của con người qua việc phát triể n tổ chức, đào ta ̣o, và phát triể n nhân sự nhằ m cải thiện năng suấ t”. Theo Nguyễn Minh Đường, “Phát triể n nguồ n nhân lực đươc̣ hiể u là gia tăng giá tri ̣cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồ n.
để ho ̣ có thể tham gia vào lực lươṇ g lao động, làm giàu cho đấ t nước, góp phần cải ta ̣o xã hội, cũng như phát huy truyề n thố ng của dân tộc và góp phầ n tô điể m thêm bức tranh muôn màu của nhân loa ̣i. Do vậy, phát triể n nguồ n nhân lực phải đươc̣ tiế n hành trên cả ba mặt: phát triể n nhân cách, phát triể n sinh thể , đồ ng thời ta ̣o ra môi trường xã hội thuận lơị cho nguồ n nhân lực phát triể n”.