Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và vai trò phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm * Nguồn nhân lực: Có khá nhiều những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực như: - Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. - Theo Ngân hàng thế giới: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân sở hữu.
- Theo Bộ Lao động-Thương binh và xã hội: NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, cũng có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng (Thuật ngữ lao động - Thương binh và xã hội. NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, 1999, tr13). - Theo Luật Lao động: Nguồn nhân lực của xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Tuy có những quan niệm khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận nghiên cứu nhưng những điểm chung có thể nhận thấy qua các khái niệm về nguồn nhân lực là: Số lượng nhân lực (có bao nhiêu người trong hiện tại và tương lai); Chất lượng nhân lực (trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ…); Cơ cấu nhân lực (về trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.) và có một ý nghĩa chung nhất là phản ánh khả năng lao động của xã hội.
Như vậy, nguồn nhân lực và nguồn lao động có ý nghĩa tương đồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 * Phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) cho rằng: Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia. Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như: nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại quan niệm: Phát triển NNL, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung.
Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người. Có thể khái quát lại: Phát triển NNL là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể về chất lượng của NNL và sự biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng cao năng lực và động cơ của người lao động. Như vậy, thực chất của phát triển NNL là quá trình tìm cách nâng cao chất lượng của NNL đó.
Hay nói cách khác đầy đủ hơn, phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng yêu cầu về NNL cho sự phát triển KT-XH trong từng giai đoạn phát triển. Quá trình phát triển NNL đòi hỏi tạo ra sự biến đổi về mặt số lượng, chất lượng và một cơ cấu đội ngũ nhân lực phù hợp để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển KT-XH. Đầu tư cho NNL là sự tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 Phát triển NNL được xem xét trên hai mặt chất và lượng.
Về chất, phát triển NNL được tiến hành trên cả ba mặt: Phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho NNL phát triển; về lượng là gia tăng số lượng NNL, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản nhất. Nói một cách tổng thể, phát triển NNL là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất. Trong đó trí lực có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm và thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc… Như vậy, từ việc nghiên cứu một số khái niệm nguồn nhân lực ở mọi giác độ nghiên cứu vĩ mô và vi mô, cùng với kinh nghiệm thực tiễn công tác có thể rút ra quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức áp dụng xuyên suốt luận văn như sau: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức nhằm nâng cao năng lực làm việc của NNL thông qua việc thực hiện các giải pháp đào tạo, tuyển dụng, các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo số lượng, chất lượng NNL và tạo động lực làm việc hiệu quả, đảm bảo phù hợp mục tiêu của tổ chức với mục tiêu của cá nhân. Đặc điểm * Số lượng nguồn nhân lực: Nói đến số lượng NNL của một tổ chức là việc xác định số lượng NNL trong tổ chức đó phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: Nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: Nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng/giảm số lượng lao động) và nhóm yếu tố bên ngoài như: Quy mô hoạt động; quy định pháp luật theo độ tuổi và giới tính; chính sách thu hút lao động.những quy định này thay đổi sẽ ảnh hưởng tới quy mô NNL.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 9 * Chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng NNL của tổ chức được biểu hiện thông qua các yếu tố trình độ chuyên môn; kỹ năng ứng dụng, kỹ năng sử dụng công nghệ, ngoại ngữ. Chất lượng NNL còn được biểu hiện thông qua như kỹ năng nghề nghiệp,yếu tố năng lực của người lao động về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất NNL thông qua hệ thống phân công chức trách nhiệm vụ và giải quyết công việc được giao. Tóm lại, chất lượng NNL là tổng thể những nét đặc trưng liên quan trực tiếp đến hoạt động của tổ chức. Những nét đặc trưng đó bao gồm: Những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực chuyên môn, phong cách đạo đức, lối sống, tinh thần.cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL.
Chất lượng là một đặc trưng quan trọng của NNL, cần vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo, cũng như sẵn sàng đón nhận những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới. Chất lượng NNL vừa là động lực vừa là thước đo trình độ phát triển của NNL trong tổ chức đó ở một thời điểm nhất định. * Cơ cấu nguồn nhân lực: Cơ cấu NNL vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức được nghiên cứu trên nhiều giác độ như: Cơ cấu trình độ chuyên môn: Tỷ trọng NNL qua đào tạo và không qua đào tạo, cũng như tỷ trọng NNL với những chuyên môn và kỹ năng khác nhau phù hợp với mục tiêu hoạt động của từng lĩnh vực khác nhau. Cơ cấu giới tính: Tỷ trọng lao động nam và nữ phù hợp với mục tiêu hoạt động của tổ chức cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả công việc của lao động.
Tuy vậy, trong quá trình tuyển dụng, quản lý, sử dụng cần nghiên cứu tính chất công việc của từng lĩnh vực để tuyển dụng đối tượng nam hay nữ cho phù hợp. Cơ cấu về độ tuổi: Tỷ trọng NNL ở các độ tuổi khác nhau thường được các tổ chức quan tâm. Số lao động trẻ tuổi sẽ là lợi thế đối với tổ chức, đó là độ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 10 tuổi có thế mạnh về cách tiếp cận công nghệ, kỹ thuật mới. Số lao động có tuổi đời lớn hơn thường là lớp người có bề dày kinh nghiệm.
Xây dựng cơ cấu NNL đảm bảo NNL vừa có lao động trẻ để đào tạo bồi dưỡng kế cận lao động đến độ tuổi về hưu, vừa có lao động có kinh nghiệm công tác đảm nhận được các vị trí lãnh đạo, các vị trí công tác đòi hỏi nghiệp vụ chuyên sâu. Mục tiêu và vai trò phát triển nguồn nhân lực * Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực. Xét trên cơ sở khoa học, sự cần thiết khách quan phát triển NNL xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết sự phát triển NNL xuất phát từ nhu cầu về lao động.
Do yêu cầu phát triển của xã hội, NNL xã hội ngày càng tăng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng lớn và phong phú, đa dạng. Tất yếu xã hội phải tạo ra nhiều của cải theo đà phát triển ngày càng tăng của nó; nghĩa là lực lượng tham gia vào các hoạt động của nền sản xuất xã hội phải ngày càng nhiều, chất lượng lao động ngày càng phải cao về trình độ trí tuệ và sức sáng tạo của con người, hay nói cách khác phải nâng cao chất lượng NNL, tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội. Xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, khi kinh tế phát triển, xã hội trở nên văn minh hơn thì con người luôn luôn được hoàn thiện ở cấp độ cao hơn. Đến lượt nó đòi hỏi việc nâng cao trình độ tri thức của người lao động; nghĩa là không phải chỉ do yêu cầu thực tiễn của sản xuất mà do yêu cầu đòi hỏi từ chính bản thân con người, hay nói cách khác, chất lượng của NNL sẽ tăng lên là điều tất yếu trong tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 11 Sự phát triển của NNL còn là một tất yếu do tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình phát triển. Qua phân tích ở trên cho thấy, NNL có vai trò đặc biệt quan trọng.