Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nhân lực tại doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển nhân lực tại Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Tành Vân Chương 3: Giải pháp phát triển nhân lực tại Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Tành Vân 13 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC TRONG DOANH NGHIEP 1. Tổng quan về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Ở bắt kỳ giai đoạn lịch sử nào, nguồn lực con người luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất và là mỗi quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia vì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh của đất nước. Điều đó càng thể hiện rõ nét hơn trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay khi nền kinh tế nào dựa nhiều vào lao động tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực.
Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũng chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực, có thể kể đến như: Theo Liên Hợp Quốc trong Các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) (2000) thì: “NNL là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2012) thì: “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. #NÑNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Các quan điểm trên tiếp cận nguồn nhân lực ở góc độ vĩ mô, còn đưới góc độ doanh nghiệp thì lại có những quan điểm về nguồn nhân lực như sau: Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Lao động — Xã hội (2009) thì: “NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bố trợ những 14 khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thé lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên co sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên”. Như vậy, có thể nói rằng nguồn nhân lực là tổng hòa của thể lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tỉnh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tỉnh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên” đặc biệt, một nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Chính vì lẽ đó, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực đang chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phén vinh, thịnh vượng của đất nước. Việc đầu tư để phát triển nguồn lực con người là đầu tư chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Các tiêu chỉ đúnh giá nguồn nhân lực Theo Hồ Bá Thâm (2003) nguồn nhân lực phải đảm bảo 7 tiêu chí sau: - Đạo đức nghề nghiệp: tinh than kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tỉnh thần dân chủ, hợp tác, và ý thức vì tập thể, cộng đồng cao; - Nang lực chuyên môn: trình độ thành thạo nghiệp vụ cao; - Kỹ năng xã hội: kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao; - Ý chí vượt khó, bền bỉ, năng lực kìm chế bản thân; - Tỉnh thần và phương pháp đột phá, sáng kiến, sáng tạo trong công việc; - Năng lực tự học, tự rút bài học kinh nghiệm bản thân, biết học hỏi đồng nghiệp, làm mới mình, thể hiện tiềm lực làm việc lâu dài; - Năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội, có năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội. Theo Phùng Rân (2008) NNL được đo bằng 2 tiêu chí: là năng lực hoạt động của NNL va pham chat dao đức của NNL đó. Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc, được đánh giá bằng học. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2009) thì NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
15 Như vậy có thể thấy các quan điểm được thể hiện trong các nghiên cứu của nhiều tác giả về NNL không có sự thống nhất. Các tiêu chí được sử dụng làm thước đo trong mỗi khái niệm được đưa ra khi là trừu tượng khó đánh giá, có thê định lượng được chủ yếu là trình độ học vấn, trình độ văn hóa, kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc. Theo quan điểm của tác giả, nguồn nhân lực với khái niệm như đã nêu ở trên thì có thể đánh giá thông qua 3 tiêu chí tổng quát là: Trí lực — Thể lực — Tâm lực. Trí lực Trí lực của người lao động là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, trình độ chuyên môn và kỹ năng làm việc của người lao động, thể hiện tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chat, tinh thần khi họ tham gia vào quá trình lao động vì thế nó đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực.
Trước hết, những người lao động được coi là nguồn nhân lực cần có kiến thức tốt và kỹ năng tay nghề cao khi họ tham gia lao động. Kiến thức của người lao động chính là những hiểu biết của họ có được nhờ học tập và tích lũy kinh nghiệm, gồm kiến thức nền tảng về thế giới, xã hội và kiến thức chuyên môn công việc. Kỹ năng của người lao động chính là sự nắm rõ và thành thạo trong các thao tác kỹ năng nghiệp vụ. Bên cạnh đó, lao động luôn cần khả năng thích ứng và nhạy bén với các yêu cầu ngày càng cao của công việc, luôn đổi mới trong cách tư duy làm việc, không bị tác động trước những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế tri thức.
Khả năng sáng tạo trong công việc thể hiện ở cải tiễn sản phẩm, cải tiến phương thức làm việc, những sáng kiến kinh nghiệm .Các kỹ năng mềm của người lao động như: kỹ năng về tin học và ngoại ngữ, kỹ năng lãnh đạo của bản thân và hình ảnh cá nhân, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng đàm phán.cũng ngày càng quan trọng khi đánh giá nguồn nhân lực. Thể lực Thể lực của nguồn nhân lực được thể hiện ở ba yếu tố sau: - Sức khỏe thể chất: Được thể hiện một cách tổng quát là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái càng chứng tỏ bản thân là người khỏe mạnh. Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là: sức lực, sự nhanh nhẹn, sự đẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của môi trường.
-_ Sức khỏe tinh thần: Là hiện thân của sự thỏa mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm 16 và tỉnh thần. Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động: ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh. Sức khỏe tỉnh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và có dao đức. Cơ sở của sức mạnh tỉnh thần là sự thăng bằng và hài hòa trong hoạt động tỉnh thần giữa lý trí và tình cảm.
- Sức khỏe xã hội: Thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chang chit, phire tạp giữa các thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan. thể hiện ở sự được tán thành và chấp nhận của xã hội. Càng hòa nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại. Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hòa nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội.
Tâm lực Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất cao đẹp về nhân cách con người, được thể hiện qua tác phong làm việc, tỉnh thần say mê công việc, ý thức của người lao động, năng động sáng tạo và ham học hỏi. Tâm lực của nguồn nhân lực bao gồm thái độ làm việc tích cực, tâm lý làm việc tốt và khả năng chịu áp lực công việc cao hay còn gọi là năng lực ý chí của nguồn nhân lực. - _ Thái độ làm việc chính là ý thức của nguồn nhân lực trong quá trình làm việc. Điều này hòan toàn phụ thuộc vào khí chất và tính cách mỗi cá nhân.
Khi đứng trong một tổ chức, họ buộc phải tuân thủ các quy tắc, nội quy làm việc nhất định. Tuy nhiên, không phải bắt cứ một người nào cũng đều có ý thức, trách nhiệm và sự tự giác tuân thủ các quy tắc và nội quy làm việc triệt để. Đặc biệt, khi văn hóa doanh nghiệp không được quan tâm, các cấp quản trị trong doanh nghiệp không thật sự chú ý kiểm soát các hoạt động thì thái độ làm việc của người lao động có thể bê trễ làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc, chất lượng sản phẩm, dịch vụ.