Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong qua trình lao động sản xuất. Không giống như một số nguồn lực khác như nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ…, nguồn nhân lực là một nguồn lực đặc biệt không thể thiếu, nó quyết định tới sự thành bại của tổ chức.
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực cả ở Việt Nam và trên thế giới. Đứng ở góc độ vĩ mô, Tổ chức Liên hợp quốc cho rằng Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và tiềm năng của con người liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và của đất nước. Cụ thể hơn, Tổ chức Lao động quốc tế xác định nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Xét từ các thành tố cấu thành, theo Ngân hàng thế giới, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân [18].
Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về nguồn nhân lực. Cụ thể: Theo Trần Xuân Cầu (2019), “nguồn nhân lực là con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [2, tr. Theo Nguyễn Hữu Dũng, bản chất của nguồn nhân lực là tiềm năng con người có thể khai thác cho sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống.
Nguồn nhân lực là sự kết hợp giữa thể lực và trí lực của con người trong sản xuất tạo ra năng lực sáng tạo, chất lượng và hiệu quả cho doanh nghiệp [4, tr. 11 Theo Võ Xuân Tiến, nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định [22, tr. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Bùi Văn Nhơn thì nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương [16].
Theo tác giả Phạm Thị My Nga [15, tr.16], có thể xem khái niệm nguồn nhân lực trên hai góc độ: - Nguồn nhân lực xã hội: là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động. - Nguồn nhân lực doanh nghiệp: là lực lượng lao động của doanh nghiệp, chính là số người có tên trong danh sách của doanh nghiệp và được doanh nghiệp trả lương. Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm nguồn nhân lực là tổng thể lực lượng lao động trong doanh nghiệp ở tất cả các vị trí khác nhau, bao gồm là tổng hòa các yếu tố về trí lực, thể lực, phẩm chất đạo đức tạo nên năng lực của người lao động nhằm thực hiện các mục tiêu, tầm nhìn, sứ mạng của doanh nghiệp.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về PTNNL: Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, PTNNL bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống [18]. Theo Bùi Văn Nhơn, “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [16, tr.
12 Theo Trần Xuân Cầu: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển theo lực, trí lực,khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa, truyền thống lịch sử… [1, tr. Theo Phạm Minh Hạc “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực. làm cho con người trở thành những lao động có năng lực và phẩm chất mới đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [5, tr. Tác giả Lê Thị Ái Lân cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất” [10, tr.
Quan điểm của Nguyễn Ngọc Mai “Phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức bao gồm các hoạt động Tuyển chọn nguồn nhân lực; Bố trí sử dụng nguồn nhân lực; Đánh giá nguồn nhân lực; Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; Đãi ngộ nguồn nhân lực. Các hoạt động trên kết hợp hài hòa lợi ích các bên nhằm thỏa mãn mục tiêu cá nhân của người lao động, đồng thời thực hiện mục tiêu chung của tổ chức” [14, tr. Theo tác giả Võ Xuân Tiến “phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đó. Nói cách khác, nếu tăng quy mô quan tâm đến việc tăng số lượng nguồn nhân lực, thì phát triển nguồn nhân lực quan tâm đến chất lượng của nguồn nhân lực đó” [20, trang 28].
Qua tham khảo các khái niệm về PTNNL, tác giả thống nhất quan điểm cho rằng PTNNL bao gồm các biện pháp hoạch định, tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực và tạo điều kiện về môi trường làm việc nhằm đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý đáp ứng mục tiêu và định hướng phát triển của doanh nghiệp.3 Vị trí, vai trò, mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Nhân lực là nguồn lực có giá trị, không thể thiếu đối với một hoạt động của tổ chức hay doanh nghiệp, đồng thời hoạt động của bản thân nó thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp của nguồn nhân lực. Chính vì vậy nguồn nhân 13 lực có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của 1 tổ chức cũng như của một doanh nghiệp. Vai trò của nguồn nhân lực chính là vai trò của con người và được thể hiện: + Với tư cách là người sản xuất con người có vai trò quyết định đối với sự phát triển.
Con người là nguồn lực sản xuất chính. +Với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ: Để tồn tại và phát triển con người cần được đáp ứng mọi nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy sự tiêu dùng của con người chính là động lực cho mọi sự phát triển và là mục tiêu của mọi doanh nghiệp luôn hướng tới. Để không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của con người trong điều kiện nguồn lực khan hiếm con người ngày càng phát huy khả năng về thể lực và trí lực của mình để đáp ứng nhu cầu của mình.
Chính vì vậy sự thỏa mãn và đáp úng nhu cầu của con người là động lực của sự phát triển. Với mục tiêu của phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, trình độ tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao và thực hiện nhiệm vụ được giao được tự giác, độc lập hơn, với thái độ làm việc tốt hơn, cũng như việc nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc dự kiến thực hiện trong tương lai. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực Hoạch định chiến lược nguồn nhân lực Hoạch định chiến lược là nội dung cơ bản đầu tiên trong PTNNL. Căn cứ vào kết quả phân tích hiện trạng một cách tổng thể, các định hướng và mục tiêu trong chiến lược chung của tổ chức ở cùng kỳ, kết quả đánh giá chiến lược phát triển nguồn lực thời kỳ trước, cũng như phân tích môi trường trong và ngoài tổ chức liên quan tới NNL là cơ sở để đề xuất các lựa chọn về chiến lược. Trong đó, việc đánh giá kết quả thực hiện chiến lược PTNNL thời kỳ trước cũng khá quan trọng. Doanh nghiệp cần 14 xem xét các mục tiêu hay chương trình nào chưa hoàn thành và có nên tiếp tục đặt ra để theo đuổi nữa hay không.
Qua việc đánh giá cũng rút ra được những kinh nghiệm làm trong chiến lược và nhìn nhận lại năng lực của đội ngũ làm chiến lược. Lưu ý rằng, cần đảm bảo mối liên hệ thống nhất mang tính tổng thể giữa chiến lược PTNNL với chiến lược chung của tổ chức. Cần có sự thống nhất từ tư duy làm chiến lược với vai trò trung tâm của nguồn nhân lực. Để việc xây dựng chiến lược PTNNL đạt hiệu quả không nên chỉ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của riêng lãnh đạo hay bộ phận nhân lực mà cần có sự thảo luận dân chủ và sâu rộng để phát huy được trí tuệ tập thể, cũng như kích thích người lao động hăng hái tham gia các dự án, chương trình, kế hoạch ngay từ ban đầu.
Bên cạnh đó, xây dựng chiến lược có thể cũng cần đến sự tư vấn của các chuyên gia đặc biệt là về yếu tố kỹ thuật xây dựng chiến lược. Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Quy hoạch PTNNL có thể hiểu đơn giản như là kế hoạch để thực thi chiến lược PTNNL của tổ chức. Nói cách khác, đó chỉ là bước đệm giữa chiến lược với các kế hoạch trung và ngắn hạn. Do đó, đôi khi quy hoạch PTNNL không được các tổ chức quá xem trọng.
Nó thường được lồng ghép luôn vào chiến lược.