phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kaolin Quảng Bình Bohemia. Chƣơng 3: Một số giải pháp giúp hoàn thiện công tác phát triển nguồn nhân lực tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kaolin Quảng Bình Bohemia. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.
Nguồn nhân lực trong phạm vi tổ chức Một tổ chức ngày nay thƣờng có ba loại nguồn lực gồm: nguồn nhân lực vật chất, nguồn nhân lực tài chính và nguồn nhân lực con ngƣời [10, tr. Nguyễn Quốc Tuấn trong giáo trình giảng dạy môn “Quản trị nguồn nhân lực (2020)”, "Nguồn nhân lực tổ chức là nguồn vốn con ngƣời gồm những nhân viên trong tổ chức với kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, chính kiến, sự thông minh, các mối quan hệ, và các đặc điểm mà nhân viên có thể làm gia tăng giá trị kinh tế cho tổ chức” [19, tr. Theo giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2006), “Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của ngƣời lao động” [6, tr. Lê Thị Mỹ Linh (2009) luận án Tiến sĩ: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu đƣợc động viên, khuyến khích phù hợp” [8, tr.
Có thể thấy, đây là một định nghĩa khá đầy đủ và hoàn chỉnh. Tuy nhiên khái niệm của luận án Tiến sĩ này vẫn chƣa thể hiện rõ điểm mạnh vƣợt trội của nguồn nhân lực đối với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp. Trong phạm vi đề cƣơng luận văn, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đó, bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của ngƣời làm việc tƣơng ứng với nhiệm vụ đó. Nguồn nhân lực trong tổ chức là toàn bộ lực lƣợng nhân lực, nói cách 13 khác là lực lƣợng lao động đƣợc đặc trƣng bởi quy mô, cơ cấu và chất lƣợng của những con ngƣời cụ thể với năng lực tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh ở tổ chức đó.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Theo sách Quản trị nguồn nhân lực của Trần Kim Dung (2015), Quản trị nguồn nhân lực là “hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con ngƣời của tổ chức nhằm kết hợp đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc của tổ chức và thoả mãn nhu cầu hợp lý ngày càng cao của ngƣời lao động” [5, tr. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Trƣớc hết “Phát triển” là việc học tập có thể không liên quan trực tiếp đến công việc hiện tại, tuy nhiên ảnh hƣởng đến công việc hiện tại hoặc tƣơng lai [10, Tr. Vũ Hoàng Ngân và Phạm Thị Bích Ngọc trong giáo trình Phát triển nguồn nhân lực (2019), Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân: “Phát triển nguồn nhân lực là một tập hợp các hoạt động có hệ thống và kế hoạch của tổ chức nhằm cung cấp cho các thành viên các cơ hội để có thể học tập các kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại và tƣơng lai” [10, Tr. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quan trọng trong tăng trƣởng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung và của mỗi tổ chức nói riêng.
Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản của mọi tổ chức. Nếu các tổ chức biết cách phát triển và khai thác tốt, thì nguồn nhân lực sẽ đóng góp rất lớn và quyết định sự thành công trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai của doanh nghiệp. Đặc biệt là trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay thì nguồn nhân lực càng khẳng định đƣợc vị trí của mình trong các tổ chức, thông qua những giá trị mà nó tạo ra cũng nhƣ có ảnh hƣởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. 14 - Đối với xã hội: Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một nƣớc, nó quyết định sự phát triển của xã hội, là một trong những giải pháp để chống lại sự thất nghiệp, đảm bảo việc làm và phát triển bền vững.
Chính vì vậy mà đầu tƣ cho nhân lực đƣợc xem là đầu tƣ hiệu quả nhất. - Đối với tổ chức: + Nâng cao trình độ tay nghề của ngƣời lao động, từ đó nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả thực hiện công việc. + Duy trì và nâng cao chất lƣợng của nguồn nhân lực… nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ chiến lƣợc của tổ chức đó. + Giải quyết các vấn đề tổ chức: Phát triển nguồn nhân lực có thể giúp các nhà quản trị giải quyết đƣợc các mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và giữa công đoàn với các nhà quản trị, đề ra các chính sách về quản lý nguồn nhân lực của tổ chức có hiệu quả.
+Tạo điều kiện cho việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào tổ chức, nâng cao khả năng tiếp cận với sự thay đổi của môi trƣờng, tạo ra đƣợc lợi thế cạnh tranh của tổ chức. + Giúp cho lãnh đạo của tổ chức, có cách nhìn mới, đầy đủ hơn về xây dựng đội ngũ có đủ năng lực về quản lý và trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức mình. - Đối với người lao động: + Đáp ứng đƣợc nguyện vọng, nhu cầu đƣợc đào tạo và cơ hội phát triển tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc, thăng tiến trong nghề nghiệp của ngƣời lao động, là một trong những yếu tố tạo nên động lực làm việc cho ngƣời lao động. Trên cơ sở đó, NLĐ sẽ thực hiện nhiệm vụ với trách nhiệm, nghĩa vụ cao hơn, phát triển cách tƣ duy mới và tính sáng tạo trong công việc, đồng thời họ sẽ luôn trung thành, tận tâm với tổ chức.
15 + Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc: Một yếu tố không thể thiếu đối với phát triển nguồn nhân lực là sức khỏe – sự phát triển hài hòa về mặt vật chất và tinh thần. Sức khỏe ngày nay không chỉ đƣợc hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Ngƣời lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai. Sức khỏe chịu tác động của nhiều yếu tố: tự nhiên, kinh tế - xã hội và đƣợc phản ánh bằng các chỉ tiêu về sức khỏe, bệnh tật, về cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo chăm sóc sức khỏe.
Nguyên tắc phát triển nguồn nhân lực Công tác phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức dựa trên 04 nguyên tắc sau: Thứ nhất, con ngƣời hoàn toàn có năng lực phát triển. Mọi ngƣời trong một tổ chức đều có khả năng phát triển và sẽ cố gắng không ngừng để thƣờng xuyên phát triển, để giữ vững sự tăng trƣởng của tổ chức cũng nhƣ cá nhân họ. Thứ hai, mỗi nhân viên có giá trị riêng. Vì vậy mỗi nhân viên là một cá thể độc lập, khác với những ngƣời khác và đều có khả năng đóng góp cho tổ chức.
Thứ ba, lợi ích của ngƣời lao động và những mục tiêu của tổ chức có thể kết hợp với nhau. Sự phát triển của tổ chức phụ thuộc vào nguồn lực của tổ chức đó. Khi nhu cầu của ngƣời lao động đƣợc đáp ứng và đảm bảo thì họ sẽ phấn khởi và có động lực để làm việc. Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực là một nguồn đầu tƣ sinh lời đáng kể bởi vì phát triển nguồn nhân lực là cách thức để đạt đƣợc sự phát triển của tổ chức hiệu quả nhất.
NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ 16 của ngƣời lao động. Hiện nay, đa số các tổ chức đang tập trung vào mô hình KSA (Kiến thức – Kỹ năng – Thái độ) để phát triển nguồn nhân lực. Theo mô hình này, để phát triển nguồn nhân lực, các tổ chức phải tập trung nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ cho ngƣời lao động. Riêng Ngành khai thác, sản xuất kaolin, kiến thức cũng gồm toàn bộ các hiểu biết, trình độ cần thiết để thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ.
Kiến thức đƣợc thể hiện bởi bằng cấp, các khóa đào tạo hoặc cụ thể hơn là hạng mục các kiến thức chi tiết về công nghệ, thông số kỹ thuật cần phải có. Kỹ năng là hạng mục các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc. Trong ngành khai thác, sản xuất kaolin, kỹ năng cần thiết gồm một số kỹ năng nhƣ tƣ duy logic và khả năng sáng tạo; Kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo; Kỹ năng vận hành máy móc; Kỹ năng giao tiếp tiếng anh, Chú ý đến từng tiểu tiết của quá trình hoạt động sản xuất; Kỹ năng tính toán; Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng hoạch định và Kỹ năng làm việc nhóm. Thái độ cần có gồm tính cẩn thận, an toàn, chăm chỉ, đúng mực, lịch sự với khách hàng.
KSA là mô hình đƣợc sử dụng rất phổ biến trong quản trị nhân sự nhằm đào tạo và phát triển năng lực cá nhân. Mô hình KSA do Benjamin Bloom đƣa ra vào năm 1956 bao gồm ba nhóm năng lực chính: - Kiến thức (Knowledge): Thuộc về năng lực tƣ duy (Cognitive) - Kỹ năng (Skills): Kỹ năng thao tác (Manual or physical) - Thái độ (Attitude): Thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm (Affective) Kiến thức là những khả năng về thu thập thông tin dữ liệu, năng lực hiểu các vấn đề (comprehension), năng lực ứng dụng (application), năng lực phân tích (analysis), năng lực tổng hợp (synthethis), năng lực đánh giá (evaluation). Đây là những năng lực cơ bản mà một cá nhân cần hội tụ để đảm nhận một công việc. Mô hình năng lực KSA Kỹ năng đƣợc hiểu là những khả năng thực hiện các công việc cụ thể, biến kiến thức thành hành động.
Tùy từng mục đích phân loại, kỹ năng có thể đƣợc chia thành nhiều dạng.