Chương 1: Phƣơng pháp luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở Công ty thực phẩm Hà Nội Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Công ty thực phẩm Hà Nội 6 CHƢƠNG 1 PHƢƠNG PHÁP LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực (HRM-Human resource management) là một trong những lĩnh vực chủ yếu trong quản trị doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động. Như vậy để xác định nguồn nhân lực, chúng ta phải xác định các thông tin cả về định lượng và định tính dưới nhiều khía cạnh khác nhau như giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề, các đặc điểm về kinh nghiệm, kỹ năng và ngoài ra còn có những mô tả về sự tận tâm, tiềm năng … của người lao động trong doanh nghiệp. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần và sự tương tác giữa các cá nhân trong một cộng đồng xã hội, một quốc gia, được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào những việc hữu ích. Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn đó là nguồn lực của một quốc gia, là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động, là những chủ thể không tồn tại một cách biệt lập mà chúng được liên kết với nhau thành một chỉnh thể thống nhất về tổ chức, tư tưởng và hành động.
7 Nhiều thập niên trôi qua, vai trò của nguồn nhân lực trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn đang là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Những thay đổi trong thế giới kinh doanh đang làm xuất hiện ngày càng nhiều ý kiến cho rằng nguồn nhân lực sẽ đại diện cho nguồn lực lâu dài và độc đáo tạo ra lợi thế cạnh tranh của các công ty trong nhiều ngành kinh doanh hiện đại. Đã có một thời, nguồn vốn cũng như công nghệ được sử dụng như những lợi thế cạnh tranh, nhưng ngày nay trong thời đại toàn cầu hoá và quốc tế hoá thì khả năng huy động vốn với số lượng lớn cũng như tạo các bước nhảy vọt, đi tắt đón đường để tiếp cận các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến là hiện thực và có tính khả thi cao. Giờ đây các chuyên gia kinh tế hàng đầu trên thế giới đều khẳng định: lợi thế duy nhất và lâu dài trong thế giới kinh doanh là con người.
Bởi vì, trong thời đại hiện nay những tình thế trong môi trường kinh doanh luôn luôn biến động như sự thay đổi diễn ra ngày càng nhanh chóng, điều kiện kinh doanh cơ bản chứa đựng rủi ro cao, chi phí gia tăng phi mã, tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh chóng, sự thay đổi và hạn chế về nguồn cung cấp lực lượng lao động được đào tạo tay nghề cao trong các lĩnh vực công nghệ tiên tiến, sự gia tăng toàn cầu hoá trong toàn bộ các ngành kinh tế và xã hội ,… Nguồn nhân lực phải trở thành nền tảng giá trị cạnh tranh trong các doanh nghiệp. Nó phải chứng thực được vai trò quyết định đối với kinh doanh, khả năng hoàn thành các mục tiêu kinh doanh và khả năng duy trì phát triển doanh nghiệp. Chức năng nguồn nhân lực phải thực hiện theo cách thức có thể đo lường và chịu trách nhiệm toàn diện cho việc đạt được mục tiêu kinh doanh. Cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều chung một quan điểm cho rằng nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của xã hội.
Khi xem xét nguồn nhân lực người ta có thể xem xét trên hai góc độ, số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực. 8 Về số lượng: nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân… số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thiếu hoặc thừa) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển.
Như vậy, về số lượng nguồn nhân lực bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động đang làm việc tại doanh nghiệp. Về chất lượng: nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ và ý thức lao động. Nói đến chất lượng lao động của nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức và tinh thần… ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành mặt chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn. Ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hoá của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Trong thời đại ngày nay con người được coi là một nguồn tài nguyên, một nguồn lực.
Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực được trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển nguồn nhân lực, chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng nhất cho mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp. 9 Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc, nhờ vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế và xã hội của họ và cuối cùng là đóng góp cho sự phát triển của xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển cả về quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng. Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là quá trình tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng đội ngũ lao động nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về lao động phục vụ cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Về số lượng lao động là tăng nguồn lao động (con người). Chất lượng lao động bao gồm sức khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực và phẩm chất cá nhân. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, là phát triển nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn. Có những quan điểm lý thuyết khác nhau trong tiếp cận chiến lược về phát triển nguồn nhân lực như quan điểm tổng quát, quan điểm phát triển phù hợp chiến lược, quan điểm phát triển cấu trúc, quan điểm phát triển tiệm cận nguồn lực.
Trong đó quan điểm tổng quát cho rằng phát triển nguồn nhân lực chiến lược là một tiến trình chuyển đổi các hoạt động nguồn nhân lực truyền thống thành một loạt các thủ tục và chính sách nguồn nhân lực hiệu quả. Quan điểm phát triển phù hợp chiến lược cho rằng hiệu quả của sử dụng nguồn năng lực sẽ gia tăng tuỳ theo mức độ tổ chức áp dụng, triển khai 10 các hoạt động phát triển nguồn nhân lực bổ sung và hỗ trợ các chính sách nguồn nhân lực cũng như các cấu thành khác của kế hoạch chiến lược chung. Hay nói theo cách khác là các hoạt động phát triển nguồn mhâm lực phải đồng bộ, nhất quán và gắn kết với chiến lược kinh doanh chung. Quan điểm phát triển cấu trúc cho rằng hiệu quả của các hoạt động phát triển nguồn nhân lực nhờ vào việc thiết kế và triển khai chương trình tổng thể chứ không phải là các hoạt động riêng lẻ.
Quan điểm phát triển tiếp cận nguồn lực dựa trên việc thừa nhận nguồn nhân lực là cốt lõi và chú trọng vào việc tạo lập lợi thế cạnh tranh bằng kỹ năng và khả năng thực hiện của nhân viên. Các quan điểm phát triển nguồn nhân lực chiến lược trên được nhận diện thông qua các yếu tố chính là chuyển đổi con người và cơ cấu nguồn nhân lực, gia tăng hiệu quả, tích hợp nguồn nhân lực vào tiến trình hoạc định chiến lược, kết hợp các hoạt động nguồn nhân lực với chiến lược kinh doanh và các ciến lược khác. Thực chất phát triển nguồn nhân lực là việc phát triển toàn diện con người, phát triển đầy đủ các mặt “trí tuệ, thể lực, đạo đức,…” và những năng lực vốn có của con người, chú trọng phát triển hài hoà “tài năng kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp”. Để có thể đạt được điều đó thì công tác tổ chức phải thực sự quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của người lao động, tạo điều kiện để người lao động tự phát triển chính bản thân về mọi mặt.
Yếu tố quan trọng bậc nhất để có thể phát triển con người một cách toàn diện đó là quá trình đào tạo. Bởi vì chỉ thông qua đào tạo con người mới có khả năng tự nâng cao tri thức và kỹ năng nghiệp vụ, mà trước hết đào tạo là phương tiện đặc biệt mang lại sự phát triển cá thể.