Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Tây Ninh. Chương 3:Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Tây Ninh. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực Đã có nhiều quan điểm khác nhau về NNL, trong đó có các khái niệm đáng chú ý như sau: Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì cho rằng: NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Trong các chỉ số phát triển thế giới (2000) của Liên hợp quốc thì: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Nghiên cứu của Nguyễn Tiệp (2005) thì: NNL là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Theo giáo trình Kinh tế NNL, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008) thì: NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. 6 Ngoài ra, Phạm Minh Hạc (2001): NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những NLĐ có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Chất lƣợng nguồn nhân lực Do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên cho đến nay khái niệm về chất lượng NNL có nội hàm khá rộng.
Tạ Ngọc Hải (2006) cho rằng: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ.của người lao động. Trong đó, yếu tố trí lực và thể lực là quan trọng nhất để xem xét và đánh giá chất lượng NNL. Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động xã hội (2011): Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: Sức khỏe của NLĐ, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc .), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của NLĐ. Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2012) cho rằng: Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái của NNL.
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Ngọc Phùng (2005): Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng cũng như sức khỏe. Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Có thể thấy chất lượng NNL là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá NNL, nhưng nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực tập trung xoay quanh các yếu tố trí lực, thể lực và tâm lực. Trí lực: Là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người.
Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực 7 con người, bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hóa, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho NNL hoạt động mang tính chuyên môn. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặt biệt quan trọng trong phát triển NNL ở xã hội công nghiệp. Thể lực: Là trạng thái sức khỏe của con người, điều kiện đảm bảo cho con người phát triển và có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khỏe mạnh.
Chăm sóc sức khỏe là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng NNL. Tâm lực: Còn gọi là phẩm chất tâm lý - xã hội, chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý. Phát triển chất lƣợng nguồn nhân lực Dưới góc độ vĩ mô và vi mô, có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển chất lượng NNL được các nhà nghiên cứu đề cập. Cụ thể như sau: Từ năm 1999 đến năm 2005, Kristne Sydhagen và Peter đã tổng hợp một số định nghĩa về phát triển chất lượng NNL theo các quan điểm của các tác giả nước ngoài: - Walton,J.
(1999): Phát triển NNL là sự mở rộng đào tạo và phát triển với định hướng học tập có tính tổ chức được hoạch định nhằm nâng cao kỹ năng, kiến thức và hiểu biết. (2001): Phát triển NNL là quá trình phát triển và tạo điều kiện phát huy khả năng của con người thông qua phát triển tổ chức, đào tạo và phát triển cá nhân với mục đích nâng cao khả năng thực hiện. (2003): Phát triển NNL là nhằm giúp các nhà quản lý phát triển kỹ năng lãnh đạo và liên kết các cá nhân với nhau, tăng cường sự sáng tạo, tự tin và khả năng làm việc trong các môi trường văn hóa khác nhau.J (2005): Phát triển NNL là một khái niệm rộng, tập trung vào các quá trình nhằm thiết lập và thực hiện phát triển NNL, thông lệ và các chính sách ở phạm vi toàn xã hội và tổ chức. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì cho rằng phát triển chất lượng NNL cần phải hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm và sự thỏa mãn nghề nghiệp cũng như cuộc sống cá nhân.
Theo cách hiểu này, phát triển chất lượng NNL không chỉ dừng lại ở vấn đề đào tạo nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển mà còn đề cập ở khía cạnh phát triển năng lực con người, ở việc sử dụng nguồn nhân lực ấy như thế nào để “tiến tới có việc làm và sự thỏa mãn nghề nghiệp”, “thỏa mãn cuộc sống cá nhân”. Theo Leonard Nadler (1990), người được cho là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ phát triển NNL, phát triển NNL “là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong một khoảng thời gian xác định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân”. Một số tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam về NNL, như sau: Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm con người trưởng thành, có năng lực xã hội và tính năng động cao”.
Bùi Văn Nhơn (2012) quan niệm: “phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất 9 lượng cho nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong tùmg giai đoạn phát triển”. Trong nhận định này, chất lượng NNL được hiểu bao gồm: (1) thể lực của NNL (thể chất và tinh thần); (2) trí lực của NNL (trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ năng của người lao động); (3) phẩm chất tâm lý xã hội (tính kỷ luật, tự giác, trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp…). Nhận định này nhấn mạnh đến các hình thức triển khai, cách thức thực hiện cùng với những giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng NNL, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.