Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển tại công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Diệu Phương. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển tại công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Diệu Phương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu.1 Nguồn nhân lực Từ xưa đến nay, ở bất kì thời điểm nào yếu tố con người vẫn luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự tồn tại của mỗi quốc gia. Con người có phát triển đất nước mới tồn tại và phát triển bền vững.
Trong thời buổi công nghệ 4.0 như hiện nay, yếu tố con người càng được thể hiện rõ qua kiến thức, kỹ năng, thái độ của mỗi cá nhân. Con người có tri thức, trình độ càng cao thì càng giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng và từ đó nguồn nhân lực cũng được sử dụng hiệu quả. Vì vậy khái niệm nguồn nhân lực cũng được ra đời với nhiều định nghĩa khác nhau. a, Khái niệm nhân lực Nhân lực là nguồn lực nằm bên trong mỗi con người bao gồm: thể lực, trí lực và nhân cách được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất.
Nhân lực phản ánh khả năng lao động, sáng tạo của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội. Điều đó được thể hiện rõ qua các định nghĩa: Theo TS. Đỗ Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan thì:” Nhân lực là nhũng cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”. (Nguồn: Giáo trình “Phát triển nguồn nhân lực” - NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội) Từ đó ta có thể thấy: + Nhân lực là lực lượng lao động biết sử dụng các yếu tố bên trong của mỗi cá nhân như: thể lực, trí lực, nhân cách, thái độ để phối hợp các nguồn lực khác của doanh nghiệp, tạo ra các sản phẩm có giá trị, phù hợp với nhu cầu của thị trường và con người.
+ Thể lực chỉ sức khỏe của mỗi cá nhân, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng con người, thu nhập hàng tháng, mức sống cao hay thấp, chế độ ăn uống, thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi của mỗi người. Thể lực mỗi người cũng phụ thuộc vào tuổi tác và giới tính của họ. + Trí lực là khả năng tiếp thu kiến thức, khả năng tự học hỏi, sáng tạo, hiểu biết, năng khiếu, trình độ cũng như thái độ, lòng tin và nhân cách của mỗi người. 5 Trong lao động sản xuất, việc khai thác các yếu tố của thể lực ở mỗi người lại có giới hạn khác nhau, có người có tiềm năng lớn, sức chịu đựng và thích nghi cao dưới sự tác động các yếu tố bên ngoài, có những người thì có thể lực kém, khả năng chịu đựng kém.
Sự khai thác các yếu tố về trí lực của con người thì không có giới hạn, mỗi người sẽ có sức sáng tạo, khả năng học hỏi và trình độ khác nhau, có thể phối hợp với nhau một cách linh hoạt. (Nguồn: Giáo trình “Quản trị nhân sự” - Đại học kinh tế Quốc dân- Năm 2019) b, Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được hiểu là tập hợp tất cả các cá nhân trong một tổ chức cùng hoạt động, sáng tạo và được liên kết với nhau. Nguồn nhân lực là nguồn lực đặc biệt nhất so với các nguồn lực khác, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Điều đó được thể hiện qua các định nghĩa: Theo cách tiếp cận của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế- xã hội trong một cộng đồng”.
World Development Indicators. - London: Oxford, 2000) Theo PGS.TS Mai Quốc Chánh và PGS.TS Trần Xuân Cầu thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp”. (Nguồn: Giáo trình “Quản trị nhân sự” - NXB Đại học kinh tế Quốc dân - Năm 2019) Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”.
(Nguồn: Nick Moore Manpower planning in libraries - London: Library Association, 1980) 6 Như vậy, nếu xét trong phạm vi một doanh nghiệp, ta có thể hiểu nguồn nhân lực là toàn bộ những người tham gia vào hoạt động lao động của doanh nghiệp, họ hoạt động vì mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp. * Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nói về nguồn nhân lực (vốn con người), đây là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác ở chỗ nguồn nhân lực bị chi phối, tác động bởi các yếu tố bên ngoài như: tâm lý, kinh tế, xã hội, thiên nhiên, dịch bệnh…. Nói cách khác nguồn nhân lực là nguồn lực tham gia trực tiếp vào mọi hoạt động của doanh nghiệp, là nguồn trực tiếp tạo ra các sản phẩm và mang lại giá trị cho doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực gồm tổng thể những cá nhân có sức khỏe và độ tuổi lao động phù hợp đang tham gia lao động sản xuất. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh: + Thứ nhất: Ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. + Thứ hai: Nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Khi xem xét nguồn nhân lực trong doanh nghiệp hay trong tổ chức thông thường nó được xem xét trên các góc độ số lượng và chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực: được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chi tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và chất lượng dân số, tuổi thọ bình quân.
Số lượng nguồn nhân lực được xác định bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Chất lượng nguồn nhân lực: được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ và ý thức lao động. Nói đến chất lượng lao động của nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức, 7 tinh thần.ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành mặt chất lượng nguồn nhân lực Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các loại lao động trong toàn bộ nguồn nhân lực của một doanh nghiệp. Chẳng hạn như cơ cấu về lao động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, cơ cấu về giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn.
Cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý giữa các lao động rất có ý nghĩa trong việc nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất kinh doang trong doanh nghiệp (Tài liệu tham khảo: Giáo trình “Quản trị nhân sự” - Đại học kinh tế Quốc dân- Năm 2019) 1.2 Khái niệm đào tạo và phát triền nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng nhất của mọi tổ chức, doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì yếu tố con người ngày càng trở lên đặc biệt quan trọng hơn. Đào tạo và phát triển của mọi quốc gia cũng như doanh nghiệp. Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động hoàn thành công việc thực tại tốt hơn Theo ThS.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân: ‘‘Đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn” (Nguồn: Giáo trình “Phát triển nguồn nhân lực” đại học Kinh tế Quốc dân - Năm 2019) Theo ThS. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho học những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.” (Nguồn: Giáo trình “Phát triển nguồn nhân lực” đại học Kinh tế Quốc dân - Năm 2019) 8 “Phát triển nguồn nhân lực tập trung vào mục tiêu trung tâm phát triển tiềm năng con người trong mỗi khía cạnh của học tập suốt đời”. (Nguồn: Định nghĩa “Phát triển nguồn nhân lực” của Robert L.
Craig, 1987) “Phát triển nguồn nhân lực là việc nghiên cứu các cá nhân và nhóm thay đổi tổ chức như thế nào thông qua học tập”. Trần Xuân Hải và TS. Trần Đức Lộc thì “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là điều kiện mang tính quyết định để doanh nghiệp có thể đứng vững và giành thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó, quá trình đào tạo, phát triển phải thường xuyên được thực hiện một cách khoa học, có tổ chức, có kế hoạch ở mỗi doanh nghiệp.