Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực 1. Các khái niệm cơ bản - Khái niệm nhân lực Nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những NLĐ làm việc cho tổ chức đó.
Nhân lực của một tổ chức hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Mỗi con người cụ thể sẽ đảm nhiệm một chức vụ hay vị trí công tác nào đó trong tổ chức. Trong tổ chức, nhân lực là một nguồn tài nguyên đắt giá, quý báu nhất và thường là một lợi thế cạnh tranh mang tính quyết định. Theo giáo trình kinh tế NNL của trường Đại học kinh tế quốc dân do PGS.
Trần Xuân Cầu chủ biên, năm 2019 thì: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”. - Khái niệm nguồn nhân lực Thuật ngữ NNL (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” như: Theo giáo trình NNL của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS.
Nguyễn Tiệp chủ biên, năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [15. Khái niệm này chỉ NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [15. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.
10 Theo giáo trình kinh tế NNL của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu chủ biên, năm 2019 thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [2. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [2.
Mặc dù vậy, các khái niệm đã nêu chủ yếu tập trung mô tả NNL trong giới hạn của xã hội hay của một cộng đồng. Trong khi, luận văn cần đặt trọng tâm nhiều hơn vào vấn đề NNL trong đơn vị sự nghiệp. Vì vậy, trong luận văn này, khái niệm NNL được hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức là khả năng làm việc của toàn bộ NLĐ trong tổ chức đó, có khả năng lao động và tiềm năng sáng tạo vô hạn, cần được quản lý và phát triển nhằm đáp ứng vai trò nguồn lực hạt nhân trong quá trình thực thi sứ mạng của tổ chức. - Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Theo GS.
Bùi Văn Nhơn trong giáo trình Quản lý và phát triển NNL xã hội xuất bản năm 2006 của nhà xuất bản Tư pháp: “Phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho NNL (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển KTXH trong từng giai đoạn phát triển” [12.TS Phạm Minh Hạc: “Phát triển NNL” được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực… làm cho con người trở thành những lao động có năng lực và phẩm chất mới đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển KTXH. Từ sự phân tích các khái niệm phát triển NNL trên, theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Vĩnh Giang (trong bài giảng môn học Phát triển NNL) có khái niệm phát triển NNL trong một tổ chức 11 như sau: “Phát triển NNL là quá trình tạo ra sự thay đổi tích cực về NNL mà tổ chức thông qua các hoạt động: duy trì số lượng và cơ cấu nhân lực hợp lý; nâng cao thể lực, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, tiến bộ nghề nghiệp của NNL; và thay đổi văn hóa làm cho hoạt động của tổ chức ngày càng hiệu quả”. Đặc điểm, mục tiêu, vai trò của phát triển nguồn nhân lực a. Đặc điểm nguồn nhân lực - Nguồn nhân lực trong đơn vị là một bộ phận trong một tổng thể NNL của quốc gia, vùng lãnh thổ.
Đó là khả năng lao động mà đơn vị có thể huy động được từ NNL của quốc gia, vùng lãnh thổ. Vì vậy, phát triển NNL của đơn vị phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với phát triển NNL của quốc gia, vùng lãnh thổ và chịu ảnh hưởng của chính sách, chiến lược phát triển NNL của quốc gia, vùng lãnh thổ. - Nguồn nhân lực của đơn vị không phải chỉ là phép cộng giản đơn khả năng lao động riêng lẻ của từng con người trong đơn vị mà phải là sự “cộng hưởng” khả năng lao động của những con người đó. Nghĩa là, tập hợp và phát triển kỹ năng làm việc theo nhóm giữ vai trò quan trọng trong nội dung phát triển NNL của tổ chức.
Hay nói cách khác, phát triển NNL trong đơn vị không chỉ nâng cao khả năng lao động của từng cá nhân, thể hiện ở chất lượng lao động, mà phải phát triển và hoàn thiện các yếu tố nâng cao khả năng làm việc theo nhóm giữa những con người đó như bố trí phù hợp công việc, sở trường, sở đoản, chế độ đãi ngộ phù hợp, môi trường làm việc được cải thiện. - Phát triển NNL trong đơn vị gắn liền với mục tiêu của đơn vị và phải được hoạch định từ mục tiêu. Nó khác với phát triển NNL của quốc gia, vùng lãnh thổ là gắn liền với chiến lược, mục tiêu phát triển KTXH của quốc gia, vùng lãnh thổ đó. Nghĩa là, phát triển NNL trong đơn vị phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược của đơn vị và hướng đến giải quyết mục tiêu đó.
- Nguồn nhân lực trong đơn vị là một nguồn lực bên cạnh các nguồn lực khác là vốn, công nghệ… Nó mang bản chất con người nên chịu sự chi phối của các yếu tố tâm sinh lý, quá trình sử dụng nó sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực - Mục tiêu của phát triển NNL trong đơn vị là nhằm sử dụng tối đa NNL hiện có và nâng cao tính hiệu quả của đơn vị. Phát triển NNL mục tiêu là tạo ra quy mô, số lượng cơ cấu hợp lý, hiệu quả gắn với nâng cao chất lượng (thể lực, trí lực và tâm lực) nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ công nhân viên (CBCNV) khỏe về thể chất, lành mạnh về tinh thần, đạt trình độ giáo dục cao, được đào tạo nghề nghiệp, có lối sống, tác phong phù hợp với yêu cầu phát triển của đơn vị. - Phát triển NNL thông qua việc giúp NLĐ hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn nghề nghiệp của mình và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, động cơ làm việc tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ trong tương lai.
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực - Đối với NLĐ + Tạo ra tính chuyên nghiệp, sự gắn bó giữa NLĐ và đơn vị. + Trực tiếp giúp NLĐ thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi NLĐ thực hiện công việc không đáp ứng được các tiêu chuẩn mẫu hoặc khi NLĐ nhận công việc mới. + Cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới cho CBCNV giúp học có thể áp dụng thành công các thay đổi công nghệ, kỹ thuật trong đơn vị. + Đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng phát triển của NLĐ.
Được trang bị những kỹ năng chuyên môn cần thiết sẽ kích thích nhân viên thực hiện được công việc tốt hơn, đạt được nhiều thành tích tốt hơn, muốn được trao những nhiệm vụ có tính thách thức cao hơn và có nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp, thu nhập hơn. + Tạo cho NLĐ có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ, đó cũng chính là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của NLĐ trong công việc. - Đối với đơn vị + Giúp đơn vị nâng cao năng suất lao động (NSLĐ) và hiệu quả hoạt động. Duy trì và nâng cao chất lượng NNL, tạo lợi thế cạnh tranh cho đơn vị.
13 + Tránh tình trạng quản lý lỗi thời, các nhà quản trị cần áp dụng các phương pháp quản lý cho phù hợp được với những thay đổi về quy trình công nghệ, kỹ thuật và môi trường hoạt động. + Giải quyết các vấn đề về tổ chức, phát triển NNL có thể giúp các nhà quản trị giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và giữa công đoàn với các nhà quản trị, đề ra các chính sách về quản lý NNL của đơn vị có hiệu quả. + Chuẩn bị đội ngũ cán bộ, quản lý chuyên môn kế cận, phát triển NNL giúp cho nhân viên có được những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến và thay thế cho cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết. - Đối với xã hội + Yếu tố con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển mà nó còn giúp tạo ra các điều kiện giúp hoàn thiện về chính bản thân của con người.
Mỗi giai đoạn phát triển của con người sẽ làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên nhiên và tăng thêm nguồn động lực cho sự phát triển của nền KTXH. + Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, đơn vị ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực 1.