CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.
[5] Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. [25] Nhân lực, theo nghĩa đen chỉ là sức người. Sức người bao hàm cả sử mạnh về vật chất và sức mạnh về tinh thần. Không nên hiểu sức người chỉ ở mặt tài mà nó còn bao hàm cả ở mặt đức, đó là cái gốc của con người.
[3] Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dưới nhiều góc độ khác khau, đó là : Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực, thì nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác. Thứ hai, với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, thì nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra ở số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. [5] Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển.
This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 5 Nội dung của nó không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn. [5] Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao động của con người. Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích luỹ kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống. Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ những năm bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Có ý kiến cho rằng: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.
Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó”. [15] Nguồn nhân lực là khái niệm có nội hàm phong phú hơn khái nhiệm nhân lực, nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ tri thức, học vấn, nghề nghiệp.) tạo thành năng lực của con người (cá nhân và cộng đồng) với tư cách là chủ thể hoạt động có thể huy động, khai thác để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực nói nên tiềm năng của con người cả về lượng (quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, phân bố dân cư.) và chất (tổng hợp những đặc trưng về thể lực, trí lực, tay nghề, phẩm chất This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 6 chính trị, tư tưởng, đạo đức.) có thể huy động, khai thác để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [15] Cũng có người cho rằng, với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang phân bổ vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội.
Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.TS Nguyễn Ngọc Quân, nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. [25] Xét về tổng thể, nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng, cơ cấu (ngành nghề, trình độ đào tạo, cơ cấu vùng miền, cơ cấu kinh tế) và chất lượng, bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế. [18] Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng khái quát nhất có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng, cơ cấu dân số.
Hay nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi. Với các quan niệm trên, nguồn nhân lực bao gồm ba yếu tố cơ bản: số lượng, chất lượng, cơ cấu. This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 7 Số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực hàng năm. Số lượng này thể hiện quy mô của tổ chức, số lượng nhân viên càng đông, quy mô tổ chức càng lớn và ngược lại số lượng nhân viên càng ít, quy mô tổ chức càng nhỏ.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu thức: sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, lành nghề. Tuy nhiên, có quan niệm khác cho rằng chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của người lao động đang và sẵn sàng thể hiện trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Nó bao gồm các yếu tố cơ bản: thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực và thẩm mỹ của người lao động. Trong đó, trí tuệ, đạo đức, năng lực là những yếu tố quan trọng nhất.
[16] - Chất lượng nguồn nhân lực trong ngành, tổ chức Chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là năng lực của nhân viên trong công việc và cuộc sống. Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí: Trí lực, thể lực và đạo đức. + Trí lực: là tất cả những gì thuộc về trí tuệ, tinh thần, năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, giá trị và phẩm chất của nhân trong tổ chức. + Thể lực: là sức khoẻ, thể chất, sức chịu đựng áp lực công việc và cách xử lý căng thẳng trong công việc của nhân viên.
+ Đạo đức: là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao hàm cả quan niệm về nhân dân và về đất nước mình. * Các mối quan hệ, tác động qua lại Các mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm, tổ chức với nhau trong tổ chức tạo ra sức mạnh tổng hợp cho tổ chức cũng như cho bản thân cá nhân họ. This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 8 Cơ cấu nguồn nhân lực là thành phần, tỷ lệ và vai trò của các bộ phận của nguồn nhân lực trong tổng thể. Cơ cấu này được quy định chủ yếu bởi cơ cấu đào tạo lao động và cơ cấu kinh tế.
Đó là tỷ trọng nhất định những lao động đã qua đào tạo. Cơ cấu kinh tế lao động đang làm việc trong nền kinh tế - xã hội được phân theo các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Trong xã hội cơ cấu đào tạo khoa học và cơ cấu lao động hợp lý sẽ làm tăng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và ngược lại. Cơ cấu nguồn nhân lực là thành tố cấu thành nguồn nhân lực.
Với cách hiểu trên, nguồn nhân lực trong một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định [10]. Nguồn nhân lực trong tổ chức có sự khác biệt về chất so với các nguồn lực khác, mà suy cho cùng là do bản chất và những đặc trưng về sinh lý, năng lực làm việc của con người quyết định. Nguồn nhân lực trong tổ chức, một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển của tổ chức, mặt khác nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển tổ chức.