CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NGÀNH DẦU KHÍ 1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: 1. Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được hiểu là nguồn cung cấp lao động cho toàn xã hội, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong độ tuổi có khả năng lao động, là một trong 3 yếu tố cơ bản của tái sản xuất xã hội (công cụ lao động, sức lao động và đối tượng lao động). Với cách hiểu này nguồn nhân lực chính là nguồn lao động.
Nguồn nhân lực (hay tài nguyên nhân lực) là thuật ngữ chung dùng để chỉ tất cả người làm trong một đơn vị, tổ chức hay tất cả lao động trong một xã hội. Nguồn nhân lực còn được coi là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực sẽ bao gồm những người từ giới hạn dưới của độ tuổi lao động trở lên. Nguồn nhân lực được tạo bởi hai yếu tố đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Số lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn lực càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ này có độ trễ nhất định.
Bởi vì, sau khi sinh ra, con người còn phải trải qua một hời kỳ dài mới trưởng thành và mới đủ độ tuổi lao động thường là 18 năm, trường hợp đặc biệt có thể là 15 năm, lúc đó họ mới tham gia đầy đủ vào quá trình lao động. Vì chất lượng, nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt trí lực và thể lực, là mức độ đáp ứng, phù hợp về chất lượng nguồn lực theo các loại cơ cấu nhân lực mà hoạt động của xã hội yêu cầu. Thể lực phụ thuộc vào tình trạng -2- sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ chăm sóc y tế, thời gian công tác, tuổi tác, giới tính. Trí lực được thể hiện bởi tài năng, năng khiếu, sự đào tạo, quan điểm, nhân cách, lòng tin, sự cống hiến.
Trí lực của con người được thể hiện thông qua sự lao động, sáng tạo, tư duy. của mỗi con người và là kho tàng đầy tiềm năng và bí ẩn chứa đựng trong mỗi con người. Trí lực của con người chỉ được khai thác tối đa khi con người đó được đào tạo, giáo dục một cách bài bản và khoa học trong một môi trường phù hợp. Như vậy, nguồn nhân lực là tập hợp các yếu tố về số lượng và chất lượng của con người tham gia vào quá trình lao động tạo ra của cải, vật chất cho xã hội.
Quá trình nhận thức về vai trò nguồn nhân lực: Thông qua lao động sản xuất, con người đã tạo ra của cải vật chất, khi tri thức của con người càng phát triển thì lượng của cải vật chất xã hội được tạo ra càng lớn và năng xuất lao động càng cao. Kinh tế học cổ điển ra đời và nghiên cứu bản chất và nguyên nhân tạo ra của cải vật chất của các quốc gia, sự phân phối sản phẩm quốc dân; các yếu tố sản xuất trong điều kiện tăng dân số, sự hữu hạn của các nguồn lực và bản chất tự do cạnh tranh trong nền kinh tế tư doanh. Kinh tế học cổ điển khi nghiên cứu về giá trị đã đề cập đến chi phí sản xuất và giá trị lao động. Giá trị sản phẩm được tính bao gồm phần thù lao tự nhiên của các yếu tố được sử dụng để tạo ra sản phẩm đó như: tiền sử dụng đất, tiền công và lợi nhuận để lại.
Như vậy, tại thời điểm này sự phân phối của sản xuất được tiến hành dựa trên 2 yếu tố là các nguồn tài nguyên và yếu tố sản xuất, trong đó người ta đã đề cập đến vai trò sức lao động của con người. Đến cuối thế kỷ XIX, kinh tế học tân cổ điển ra đời và thay thế kinh tế học cổ điển được thực hiện bởi các nhà kinh tế như: D. Sau đó, các nhà kinh tế học tân cổ điển như: J. đã sử dụng phép phân tích trên (các khái niệm lợi ích biên và năng suất biên để phân tích việc định giá hàng hóa, dịch vụ và yếu tố sản xuất tại các thị trường cạnh tranh.
-3- Đặc điểm của kinh tế học tân cổ điển là sử dụng kinh tế học vi mô để mô tả nền kinh tế và đặc biệt chú trọng đến việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm trong một nên kinh tế tĩnh. Lý thuyết tăng trưởng mới ra đời bởi 2 công trình nghiên cứu cơ bản của Robert Solon năm 1956 và 1957 chú trọng đến khả năng thay thế giữa vốn K và lao động L trong hàm sản xuất Q = f(L1K) đã đảm bảo tăng trưởng đạt đến trạng thái bền vững. Lý thuyết này xác định rằng tích luỹ vốn vật chất, vốn con người kết hợp với các yếu tố ngoại sinh như khoa học công nghệ sẽ đẩy nhanh tiến độ tăng trưởng kinh tế. Solon được gọi là lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh.
Cùng với thời gian và sự phát triển của nền kinh tế, nhận thức về việc tích luỹ và nâng cao kiến thức của nguồn lực là yếu tố then chốt của tăng trưởng bền vững. Đã có nhiều nhà kinh tế và nhà quản lý xem xét, nghiên cứu nguồn nhân lực như một nguồn nội sinh của tăng trưởng. Trong đó có các công trình nghiên cứu của P. Grossman và Helpman (1991) và Lucas (1988) (Giải Nobel về kinh tế năm 1995).
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế mới đã tìm cách nội sinh hóa kiến thức bằng cách đặt nó bên cạnh các biến số vốn vật chất (K) và lao động (L), lúc đó hàm sản xuất được viết lại dưới dạng Q = F(K, t, L). t được hiểu là chỉ số kiến thức mà tổ chức, cá nhân có được trong quá trình sử dụng vốn vật chất. Theo công trình của K. Đó chính là quá trình học hỏi của tổ chức – học bằng làm, do đó học hỏi có vai trò đặc biệt quan trọng trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh.
Trong lý thuyết này, vai trò nguồn nhân lực được coi trọng đặc biệt và cho rằng nó là một trong những động lực mạnh góp phần tăng trưởng kinh tế. Những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh và đạt được những thành tựu quan trọng. Nhiều nước phát triển cho rằng sự phồn vinh kinh tế đang đến gần, họ nghĩ rằng chìa khóa của sự phát triển – phồn vinh là tự động hóa. Do đó, trong một vài thập niên triết lý kinh doanh là coi công nghệ là trung tâm, dựa vào công nghệ mới được truyền bá -4- rộng rãi.
Trong khi đó người ta xem công nhân như là một yếu tố hao phí sản xuất và là yếu tố bất định. Chính vì vậy, người ta định hướng phát triển bằng cách chỉ đổ xô đi đổi mới trang thiết bị và sản phẩm mà vẫn giữ nguyên tổ chức lao động truyền thống. Điều đó đã phải trả giá bằng những thất bại to lớn. Bằng chứng là các nước có nền kinh tế lớn trong giai đoạn này như: Pháp, Đức, Nhật, Anh, Mỹ, tỷ lệ tăng trưởng sản lượng trên mỗi công nhân giai đoạn 1973 - 1987 trung bình chỉ bằng 50% giai đoạn trước đó 1930 - 1973.
Tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu Học hỏi Học trên thực tế công việc Giáo dục đào tạo Hình 1-1: Lý thuyết tăng trưởng mới Bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây, tất cả các ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất đều là các ngành dựa trên sức mạnh của trí lực (nguồn nhân lực có tri thức cao) như: vi điện tử, vô tuyến viễn thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, hàng không, công nghệ thông tin. Các sản phẩm hiện đại đó sử dụng rất ít tài nguyên thiên nhiên. Giá trị tài nguyên trong sản phẩm của thập niên 90 thế kỷ XX đã giảm 60% so với thập kỷ 70 thế kỷ XX. Điều này đã tạo nên sự thay đổi to lớn đối với nhận thức về nguồn nhân lực và quá trình tổ chức sản xuất được liên tục cải tiến, thay đổi.
Dẫn đến phải xem xét thay đổi hệ thống đào tạo sao cho phù hợp với quá trình phát triển nguồn nhân lực. Sự thay đổi của các thang giá trị con -5- người cũng buộc phải hình thành một cơ chế mới về lao động, thu nhập, tiền lương. Chính những thay đổi to lớn đó đã làm cho triết lý kinh doanh có một bước ngoặt từ quan niệm coi công nghệ là trung tâm chuyển sang coi con người là trung tâm, tôn vinh con người ở các yếu tố tri thức, trình độ chuyên môn và động cơ lao động. Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, tính cạnh tranh vốn có trong nền kinh tế thị trường lại trở nên cạnh tranh gay gắt và quyết liệt hơn.
Giới doanh nghiệp của các nước đều thừa nhận yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, phong cách làm việc chuyên nghiệp, thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức. Do vậy, ngày nay các doanh nghiệp thành đạt là doanh nghiệp có nguồn nhân lực chất lượng cao, có chính sách đào tạo và đãi ngộ thỏa đáng với người lao động, quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của họ và đảm bảo việc làm ổn định cho họ. Như vậy, trong quá trình phát triển không ngừng của lịch sử loài người nhận thức về vai trò nguồn nhân lực đã có sự thay đổi căn bản, từ chỗ chỉ coi con người là yếu tố hao phí sản xuất đến chỗ coi con người là yếu tố trung tâm, vốn con người có vai trò quyết định trong tăng trưởng kinh tế. Nguồn nhân lực - một nhân tố khách quan trong quyết định sự tăng trưởng kinh tế - xã hội: a) Vốn con người là một nhân tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng kinh tế: Theo các nhà kinh tế học Mỹ thì : “Hai phần ba (⅔) tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tại Mỹ có thể là do tăng vốn con người trong lực lượng lao động”.
Có hai loại tham gia vào hàm sản xuất: vốn vật chất và vốn con người. Vốn vật chất bao gồm nhà xưởng, máy móc, văn phòng, tiền vốn.