phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực KH&CN Chƣơng 2 : Phƣơng pháp và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực KH&CN tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia Chƣơng 4 : Giải pháp phát triển nguồn nhân lực KH&CN tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia giai đoạn 2015-2020 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ những năm 1970, các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, kinh tế xã hội học đề cập và giải quyết một số vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực dƣới các góc độ và phạm vi khác nhau liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu của đề tài. Đó là bƣớc phát triển mới về tƣ duy và nhận thức trong nghiên cứu ngƣời lao động và trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Christian Batal (2002), Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực Nhà nước [188].
Phân tích về năng lực làm việc cán bộ công chức, khối doanh nghiệp Nhà nƣớc. Xây dựng khung năng lực tiêu chuẩn trên cơ sở đó phân loại năng lực; Đồng thời mô tả công việc chuyên môn của một số công việc chuyên trách yêu cầu nhân lực chất lƣợng cao nhƣ: Phụ trách đào tạo trong một cơ quan Nhà nƣớc, công việc của một thủ trƣởng đơn vị trong doanh nghiệp Nhà nƣớc. Cuốn sách Human resource policy and economic development (Chính sách nguồn nhân lực và phát triển kinh tế) xuất bản năm 1990, tái bản năm 1991 của Ngân hàng Phát triển châu Á [184], đề cập đến chính sách và xu hƣớng phát triển kinh tế, biến đổi cơ cấu lao động, nguồn nhân lực lao động ở các nƣớc đang phát triển ở châu Á. Cuốn sách The East Asian Miracle: Economic growth and public policy of World Bank (1993); bài viết Inequality and growth reconsidered: lesson from East Asia của Nancy Birdsal, David Ross (1995) đã phân tích và khẳng định: Một trong 4 z những nguyên nhân quan trọng dẫn đến các nƣớc Đông Á, chính là do có chính sách đầu tƣ, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở các nƣớc này.
Bài viết Asia's four little dragons: a comparison of the role of education in their development (Bốn con rồng nhỏ châu Á: một sự so sánh về vai trò của giáo dục trong phát triển) của Paul Moris (1996); bài Another look at East Asia Miracle (Một cái nhìn khác về thần kỳ Đông Á) của Ranis G (1996) [183]. Các tác giả đã lấy ví dụ minh chứng sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nƣớc Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… trở thành những con rồng Châu Á ở những thập kỷ cuối thế kỷ XX và tiếp tục tăng trƣởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI, cũng là nhờ đều quan tâm phát triển giáo dục và đào tạo, có chiến lƣợc đúng đắn phát triển nguồn nhân lực quốc gia, chú trọng tạo ra nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Trọng tâm của công trình nghiên cứu là luận điểm về vai trò quyết định của cá nhân trong hoạt động sống của công ty. Các công ty hiện nay đều mong muốn nói đến chính sách cán bộ có tính chất chiến lƣợc, nhằm đào tạo, tiếp nhân và cung cấp lực lƣợng lao động chất lƣợng cao, có khả năng sang tạo đến tất cả các khâu sản xuất.
Tình hình nghiên cứu trong nước Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội [24]. Đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển con ngƣời trong sự nghiệp CNH - HĐH và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục Việt Nam để phục vụ hiệu quả việc phát triển con ngƣời. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội [8]. Tác giả đã tham khảo và tiếp thu tƣ tƣởng của cuốn sách này về một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến 5 z phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con ngƣời trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con ngƣời trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Tác giả đã phân tích về con ngƣời với tƣ cách là nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Tác giả coi con ngƣời là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ của quá trình CNH - HĐH là do con ngƣời và vì con ngƣời. Đây là những vấn đề lý luận quan trọng mà nội dung cuốn sách có những quan điểm mới hơn về con ngƣời. Tác giả cũng đƣa ra những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH ở Việt Nam hiện nay.TS, Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục Việt Nam [19].
Cuốn sách đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo trong phát triển con ngƣời nói chung và nguồn nhân lực đất nƣớc nói riêng. Tác giả đã làm rõ khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. Tác giả cho rằng, khâu đột phá để phát triển nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là phải đổi mới, cải cách giáo dục và đào tạo. Tác giả đã tham khảo và tiếp thu tƣ tƣởng của luận án này liên quan tới luận án nhƣ cơ sở lý luận, thực tiễn và một số giải pháp giải pháp phát triển phát triển nhân lực khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH.
6 z Phạm Công Nhất (2007), Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [58]. Tác giả khẳng định Việt Nam là một nƣớc có tốc độ phát triển nguồn nhân lực nhanh cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia về nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ, thì chất lƣợng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Bài viết đã trình bày kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao của các nƣớc trên thế giới: Singapor, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nƣớc Tây Âu.
Các quốc gia đều coi trọng và phát triển nền giáo dục - đào tạo, phải có chính sách thu hút sử dụng nhân tài. Sau đó đã đề ra một số ý kiến tham khảo cho Việt Nam. Nhƣ vậy, các công trình của các nhà khoa học nghiên cứu ở trong nƣớc và nƣớc ngoài đã nghiên cứu về nguồn nhân lực dƣới nhiều góc độ khác nhau; trong đó có cả các công trình khoa học đăng tải trên các báo, tạp chí nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc nói chung với những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó, có giá trị tham khảo tốt, nên đề tài đã kế thừa và phát triển có chọn lọc tƣ tƣởng về phát triển nguồn nhân lực; hiểu rõ thêm một số vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển nguồn nhân lực nhƣ: khái niệm, vai trò của nguồn nhân lực; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam trong phạm vi cả nƣớc và một số địa phƣơng; nguyên nhân, phƣơng hƣớng, các giải pháp khả thi về phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao.
Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) đƣợc hiểu nhƣ khái niệm "nguồn lực con ngƣời". Khi đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ điều hành, thực thi chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn đƣợc gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những ngƣời từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động đƣợc gọi là lực lƣợng lao động.
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con ngƣời khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con ngƣời là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trƣờng sống của họ. Nhƣ vậy, xem xét dƣới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhƣng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣ- ợng và chất lƣợng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con ngƣời với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
8 z Với tƣ cách là tiềm năng lao động của mỗi vùng, miền hay quốc gia thì nguồn nhân lực là tài nguyên cơ bản nhất.