Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển nguồn nhân lực du lịch. Thực trạng và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào Cai. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở Lao Cai.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CUA PHÁT TRIEN NGUÒN NHÂN LỰC DU LICH 1. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguôn nhân lực Trên thế giới hiện nay, muốn phát triển kinh tế thì bất kỳ một quốc gia nào cũng đều phải dựa trên các nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người. Trong đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, nó có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Do đó trong kinh tế học xuất hiện thuật ngữ “nguồn nhân lực” thé hiện sự công nhận của phương thức quan ly mới trong việc sử dụng nguồn lực con người. Hiện nay có nhiều các quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Theo tô chức lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Theo điều 6 của Bộ Luật Lao động Việt Nam: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tô chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động” [9, tr. Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nguồn nhân lực đều đề cập đến các đặc trưng chung là: - _ $Ố lượng nguồn nhân luc, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu người và trong tương lai sẽ có thêm bao nhiêu người nữa. 12 - Chất lượng nhân lực, bao gồm: trí tuệ, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực thâm mỹ.
của người lao động. Trong đó, trí lực và thé lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. - Cơ cấu nguồn nhân lực: thé hiện trên các phương diện khác nhau như cơ cấu về trình độ đảo tạo, giới tính, độ tuổi, dân tộc. Nguồn nhân lực cũng được nhìn nhận không chỉ những người trong độ tuổi lao động mà cả những người ngoài độ tuôi lao động.
Nguồn nhân lực là tong thé các tiềm năng lao động sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó; nguồn lực con người được thể hiện thông qua sỐ lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và các năng lực phẩm chất khác), tức là không chỉ bao hàm số lượng, chất lượng, cơ cầu nguồn nhân lực hiện tại, mà còn bao hàm của nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Từ những phân tích trên, khái niệm nguồn nhân lực trong luận văn nay được hiểu như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào nên sản xuất xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Khả năng đó được thé hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cau dân số {6, tr. Các nội dung cơ bản của nguồn nhân lực a.
Số lượng nguon nhân lực Khi nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương hay quốc gia nào thi van dé đầu tiên đặt ra là số lượng nguồn nhân lực. Nghĩa là tổ chức, địa phương hay quốc gia có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố: Thứ nhất là yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động: 13 Thứ hai, các yếu tố bên ngoài của tô chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực có thé coi là một trong những yếu tô quyết định đến năng lực cạnh tranh của mỗi một tô chức, địa phương hay quốc gia.
Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật), tinh than thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động. Trong ba mặt: Thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở dé phát triển, trí lực là phương thức dé chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyên hoá của tri thức thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực bởi có nó con người mới có thê nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội.
Cơ cấu nguồn nhân lực Khi xem xét, đánh giá về nguồn nhân lực của một tô chức, địa phương hay quốc gia người ta thường chú trọng đến số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến cơ cấu - một yếu tố không thê thiếu của nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau: cơ cau về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuôi. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có có thê hiểu là sự biến đổi (gia tăng) về số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thé lực, trí lực, kiến thức, chuyên môn kỹ năng, và tinh thần, cũng như ý thức đạo đức của nguồn nhân lực.
Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế 14 - xã hội trong từng giai đoạn phát triển |6. Do chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người vì sự tiễn bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. Phát triển nguồn nhân lực có thể được nhìn nhận từ hai góc độ: Thứ nhất, ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực của một địa phương được hiểu là quá trình hoạch định nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực. Thứ hai, ở góc độ của tô chức, doanh nghiệp thì phát triển nguồn nhân lực là quá trình đảm bảo, duy trì lực lượng lao động cần thiết giúp tô chức, doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.
Đó là một quá trình diễn ra liên tục với hàng loạt các hoạt động như: dự báo nhu cầu, hoạch định, tuyển dụng, bố trí công việc, đào tạo, đánh giá, đãi ngộ lao động. Đối với Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải xuất phát từ công cuộc đổi mới, phát huy thành tựu của đôi mới, gắn với Chiến lược phát triển Du lịch và Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch của cả nước và từng địa phương. Phát triển nguồn nhân lực du lịch là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó nhà nước, nòng cốt là Bộ Văn hoá, Thể thao va Du lịch, có trách nhiệm quản lý và tạo điều kiện cho đào tạo và sử dụng hiệu quả nhân lực du lịch; cơ sở dao tạo du lịch phải có trách nhiệm cung cấp nhân lực đạt yêu cầu thị trường và doanh nghiệp du lịch phải sử dụng hợp lý và hiệu quả lao động du lịch, khuyến khích và chủ động tích cực tham gia vào quá trình phát triển nguồn nhân lực du lịch tại doanh nghiệp và mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch. Thúc đây xã hội hoá giáo dục-đào tạo và thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, theo nhu cầu thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của người học, đảm bảo thực hiện công bang xã hội, tạo co hội học tập suốt đời cho mọi người, nhất là những người làm du lịch và có nhu cầu làm du lịch.
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải đáp ứng yêu cầu quốc tế, từng bước đạt những tiêu chuẩn chung và được 15 thừa nhận trong khu vực va thế gidi, tao tién dé cho tu do di chuyén lao dong quốc tế. Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực thì hầu hết các quốc gia đều chú trọng phát trién về mặt chat lượng còn về số lượng và cơ cấu thì phát triển ở mức hợp lý tùy tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển. Nguồn nhân lực du lịch 1. Du lịch Ngày nay, ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến.
Hội đồng Lữ hành va Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council — WTTC) đã công bố du lich là một ngành kinh tế lớn nhất trên thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng giúp các nước đang phát triển đây nhanh mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người dân. Du lịch góp phần tạo ra hàng triệu cơ hội việc làm trực tiếp hay gián tiếp đối với các ngành có liên quan khác như vận tải, tài chính, nông nghiệp. Trong thời đại toàn cầu hóa, Du lịch đang trở thành nhịp cầu kết nối, giải quyết những bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo của các dân tộc trên toàn thế giới.
Ngành Du lịch Việt Nam có lịch sử phát triển hơn 50 năm, nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh vào những năm dau của thập kỷ 90 của thé kỷ trước. Ngày nay, du lịch đã được Đảng và Chính phủ xác định là ngành kinh tế mũi nhọn góp phan thúc đây tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua. Năm 2001, Việt Nam mới thu hút được khoảng 2,3 triệu lượt khách quốc tế, thì đến năm 2012, con số này đã đạt 6 triệu lượt khách. Với mức tăng trưởng 2 con SỐ, Việt Nam và các nước Singapore, Nhật Bản, An Độ, Indonesia.
nằm trong danh sách 24 nước được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đánh giá có tốc độ tăng trưởng tích cực nhất. 16 Nếu so sánh với các ngành kinh tế khác, du lịch được xếp vào một trong những ngành mới.