Chương 1: 0 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 8 1.1 Khái niệm 32 Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, khi các tác giả tiếp cận trên những giác độ khác nhau. Tác giả luận án xin đưa ra một số khái niệm được nhiều người sử dụng khi nghiên cứu kinh tế: Một: Theo quan điểm của Liên hiệp quốc, "nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [ 32 ]. Quan niệm này cho rằng, X X khái niệm nguồn nhân lực bao gồm các nội dung cơ bản sau: - Về mặt lượng, nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong tuổi lao động có khả năng lao động. - Về mặt chất, nguồn nhân lực là nguồn lực con người thể hiện ở trình độ lành nghề, kiến thức, năng lực của con người.
- Nguồn nhân lực không chỉ bao hàm nguồn lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn lực tiềm tàng của con người có khả năng khai thác trong tương lai. Hai: "Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó" [ 17 ][ 32 ]. Khái niệm này được định nghĩa trên giác độ vĩ mô và cụ thể hóa nguồn X X X X nhân lực ở một số nội dung sau: - Về mặt chất lượng, nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực - Về mặt lượng, nguồn nhân lực là tổng thể nguồn nhân lực hiện có và tiềm năng của một quốc gia hay một địa phương.
Theo tác giả, để hiểu đầy đủ và toàn diện khái niệm nguồn nhân lực, chúng ta nên bắt đầu nghiên cứu một số khái niệm có liên quan. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Quá trình lao động là quá trình con người sử dụng sức lao động của mình để vận hành công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động, biến chúng thành sản phẩm. Con người chỉ có thể tham gia vào quá trình lao động khi và chỉ khi người đó sở hữu trong mình sức lao động.
Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực, trí lực và tâm lực được con người vận dụng trong quá trình lao động.Mac, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó [ 3 ]. Như vậy, mỗi con người là nguồn cung X X cấp sức lao động cho xã hội. Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì họ là người lao động. Những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động sản xuất được coi là nguồn cung ứng sức lao động tiềm năng.
Những người chưa đến tuổi lao động được hiểu là những người chưa đủ năng lực làm việc hiện tại, nhưng là nguồn cung ứng sức lao động cho tương lai, họ đang tích lũy nhân lực. Nhân lực là sức lực con người, nằm trong con người và nhờ nó con người hoạt động, được hình thành từ hai nguồn: sự phát triển sinh học tự nhiên và sự trưởng thành trong quá trình học tập và rèn luyện của con người [ 3 ],[ 7 ],[ 10 ]. Như vậy, sức lao động X X X X X X chỉ là một phần nhân lực của con người khi tham gia lao động. Khái niệm vốn nhân lực được sử dụng khi bàn đến sự đầu tư của con người vào chăm sóc sức khỏe, học tập, đào tạo và phát triển con người toàn diện.
Nhà kinh tế học cổ điển A.Smith (1723-1790) là người đầu tiên đưa ra khái niệm vốn nhân lực: “Sự tích lũy những tài năng trong quá trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi hỏi chi phí. Đó là tư bản cố định đã kết tinh trong con người. Những tài năng đó tạo thành một phần tài sản của anh ta và của xã hội” [ 3 ], [ 19 ]. Vốn nhân lực là tập hợp kiến thức, kỹ X X X X năng, kinh nghiệm và các phẩm chất tốt đẹp mà con người tích lũy được trong bản thân mình.
Nguồn hình thành vốn nhân lực chính là con người. Khái niệm nguồn lực với ý nghĩa là nguồn gốc, nơi chứa đựng và phát sinh ra lực, thì nguồn nhân lực được hiểu trên hai khía cạnh cơ bản: - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 - Nơi (nguồn) hình thành, lưu trữ, phát sinh, phát triển nhân lực nằm ngay trong con người lao động và tập thể người lao động. Từ quan niệm trên, tác giả luận án cho rằng cần phân biệt rõ nguồn nhân lực trên hai giác độ: cá biệt (cá nhân) và tổng thể (tập thể).
Mỗi con người là một nguồn nhân lực – gọi là nguồn nhân lực cá nhân, hay nguồn nhân lực cá biệt. Nguồn nhân lực cá biệt là tổng thể nhân lực, sức lao động, vốn nhân lực của từng cá nhân, được hình thành và phát triển trong mỗi con người cụ thể. Nguồn nhân lực tổng thể là tổng thể vốn nhân lực của tập thể người lao động. “Tổng thể vốn nhân lực” không thể hiểu giản đơn là tổng số người lao động.
Nếu giả định rằng, người có sức lao động ở mức trung bình, có vốn nhân lực trung bình được quy ước là 1 đơn vị nhân lực, thì người có sức lao động, trình độ cao hơn, vốn nhân lực nhiều hơn, thì sẽ có nguồn nhân lực lớn hơn 1 đơn vị nhân lực, thậm trí có thể bằng 2-3 đơn vị nhân lực. Trong kinh tế chính trị, C.Mac từng khẳng định, lao động phức tạp bằng bội số lao động giản đơn. Điều đó có nghĩa, hai doanh nghiệp có cùng số lượng lao động như nhau, doanh nghiệp nào sở hữu nhiều lao động có trình độ cao hơn sẽ có tổng số đơn vị nhân lực lớn hơn – tức doanh nghiệp đó có nguồn nhân lực lớn hơn và mạnh hơn. Hơn thế nữa, với cùng số lượng nhân sự như nhau và giả định có cùng trình độ đào tạo như nhau, song được phân bổ theo một cơ cấu khác nhau và được vận hành theo một cơ chế khác nhau sẽ tạo ra tổng nhân lực khác nhau.
Quản lý và lãnh đạo vừa là chất kết dính nguồn nhân lực cá biệt thành nguồn nhân lực tổng thể, vừa là tác nhân tạo ra tổng hợp lực khi các nguồn nhân lực cá biệt kết hợp và tương tác với nhau trong một tổ chức. Kế thừa tính khoa học của các quan điểm nêu trên và sự phân tích theo quan điểm cá nhân, tác giả luận án xin đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực như sau: Một cách khái quát, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người. Trên giác độ vĩ mô, theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng khai thác sử dụng vào lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là tổng thể các nguồn lực con người hiện hữu và tiềm năng của một quốc gia, một địa phương, một doanh nghiệp hay một con người.
Trên giác độ vi mô, một cách khái quát, “Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể nguồn lực con người của từng cá nhân và của toàn bộ người lao động tham gia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện trình độ sức lao động, năng lực làm việc, sức sáng tạo, kinh nghiệm, phẩm chất tâm lý của người lao động tích lũy liên tục trong quá trình sống, rèn luyện, học tập và làm việc trong doanh nghiệp”.2 Nội dung của nguồn nhân lực và phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 33 1.1 Nội dung nguồn nhân lực và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Nội dung nguồn nhân lực Là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực cũng bao hàm 2 nội dung cơ bản: số lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đức lực). Về mặt lượng, trên giác độ vi mô, khái niệm nguồn nhân lực trong doanh nghiệp thường được sử dụng với tên gọi là quy mô nguồn nhân lực, hay lực lượng lao động của doanh nghiệp. Theo nghĩa rộng nhất, quy mô nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm, không chỉ là số nhân lực trong biên chế và ngoài biên chế (lao động theo hợp đồng dài hạn, hợp đồng ngắn hạn, lao động thời vụ) của doanh nghiệp, mà còn bao hàm cả lực lượng nhân sự bên ngoài ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (cộng tác viên, lao động trong các cơ sở gia công, đại lý…). Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm chỉ trạng thái và năng lực làm việc của nguồn nhân lực, thể hiện trên ba nội dung: thể lực, trí lực và tâm lực.
Trí lực là sức mạnh của tri thức và trí tuệ của người lao động. Trí lực thể hiện ở trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp của người lao động so với yêu cầu của công việc mà người đó đảm nhận. Trí lực là yếu tố trí tuệ phản ánh sức sản xuất và năng lực sáng tạo của người lao động, vì thế đóng vai trò quyết định trong phát triển nguồn nhân lực. Thể lực hay sức khỏe là sức mạnh của cơ thể con người trên giác độ sinh học.
Sức khỏe không chỉ thể hiện ở sức mạnh của cơ bắp (sức khỏe thể chất), mà còn được thể hiện ở sự dẻo dai và cân bằng của sức mạnh thần kinh (sức khỏe tinh thần). Thể lực là điều kiện tiền đề để duy trì và phát triển trí tuệ. Sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực của con người được phát triển. Tâm lực là sức mạnh tâm lý của con người.