Chương 1- Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực cho các công ty chứng khoán tại Việt Nam. - Chương 2- Thực trạng phát triển nguồn nhân lực cho các công ty chứng khoán tại Việt Nam. - Chương 3- Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các công ty chứng khoán tại Việt nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 1.
Những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực cho công ty chứng khoán 1. Lý luận chung về nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao Động – Xã Hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [99. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lựcvới tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [99.
Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Theo giá trình kinh tế nguồn nhaan lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên thì: “ Nguồn nhân lực là nguồn lưc con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất địnhtại một thời điểm nhất định” [7.
“Nguồn nhân lực là một pham trù dung để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư,khả năng huy động tham gia vào quá trình toạ ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiên tại cũng như trong tương lai.Sức manh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [7. Những khái niệm nêu trên chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế.Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề phát triển nguồn nhân lực 5 trong DNNVV. Vậy trong phạm vi doanh nghiệp, nguồn nhân lực được hiểu như thế nào? Theo GS. Bùi Văn Nhơn trong sách quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản 2006 thì: “ Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [79.
Tr 72] Theo giáo trình Quản trị nhân lực, đại học kinh tế quốc dân do Ths. Nguyễn Văn Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2004) thì khái niệm này đượ hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao độngl; àm viêc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu la nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lự và trí lực” [38.8] Khái niệm này chưa nêu rõ sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức nếu họ được đọng viên, phối hợp tốt với nhau. Vì vậy, trong luận án này khái niệm nguồn nhân lực đươcj hiểu như sau: Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp. Quan niệm về nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán Chúng ta hiểu nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán là những con người lao động rất cụ thể tham gia vào các quá trình xây dựng, duy trì và phát triển thị trường chứng khoán.
Những con người này, trên mỗi cương vị công tác của mình, tuỳ từng thời kỳ phát triển của thị trường mà cần được trang bị những kiến thức nhất định về nhiều mặt, ở các mức độ khác nhau, đặc biệt là kiến thức về chứng khoán. Như trong phần giới thiệu đã đề cập, phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ giới hạn trong việc đào tạo kiến thức về chứng khoán cho nguồn nhân lực tại các 6 công ty chứng khoán. Chúng ta có thể phân nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán vào các nhóm đối tượng đào tạo như sau : - Cán bộ quản lý nhà nước về chứng khoán, bao gồm cán bộ ở UBCKNN, cán bộ quản lý nhà nước liên quan trực tiếp với ngành chứng khoán ở các bộ khác như Bộ kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Ngân hàng nhà nước; Văn phòng Chính phủ vv - Cán bộ trực tiếp điều hành hoạt động của thị trường chứng khoán như cán bộ ở Trung tâm giao dịch chứng khoán , Hiệp hội chứng khoán. - Cán bộ ở các công ty chứng khoán và các đơn vị khác liên quan trực tiếp đến kinh doanh như Ngân hàng chỉ định thanh toán, công ty quản lý quỹ, công ty tư vấn đầu tư.
- Cán bộ giảng dạy chứng khoán ở các trường đạị học, cao đẳng, trung học, các trung tâm đào tạo, ở Học viện chứng khoán. - Cán bộ nghiên cứu ở các viện nghiên cứu kinh tế, xã hội - Cán bộ quản lý kinh tế, - Cán bộ lãnh đạo các cấp - Công chúng, tổ chức tham gia đầu tư. - Nhân dân, trong đó có khối công chúng là tiềm năng tham gia thị trường. Nguồn nhân lực cho Thị trường chứng khoán, có thể có nguồn gốc từ nguồn đào tạo chuyên ngành chứng khoán và cũng có thể không phải vậy, mà là kết quả của sự thu hút từ bên ngoài ngành.
Chúng ta hiểu các chức danh thuộc lĩnh vực chứng khoán cũng theo nghĩa tương đối mà thôi. Ví dụ Tiến sỹ chứng khoán, Thạc sỹ chứng khoán, chuyên viên tài năng chứng khoán, cử nhân chứng khoán. Những người này có thể được đào tạo chuyên ngành chứng khoán (bao gồm cả ở chuyên ngành đào tạo là chứng khoán và đào tạo không phải chuyên ngành chứng khoán, nhưng làm luận văn về chứng khoán ) hoặc họ được đào tạo, công tác tại các ngành khác, sau đó được chuyển về làm việc trong ngành chứng khoán, và được trang bị những kiến thức nhất định về chứng khoán. Những cán bộ không phải là cán bộ chuyên môn chứng khoán, nhưng hoạt động trong ngành chứng khoán thì theo một nghĩa nào đó họ cũng là nguồn nhân lực của Thị trường chứng khoán.
Tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực: - Đánh giá về công tác đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán: Từ khi thành lập, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã tiến hành các công việc để chuẩn bị cho việc xây dựng và vận hành thị trường chứng khoán Việt Nam như: xây dựng các điều kiện pháp lý, chuẩn bị hàng hoá cho thị trường, trang bị cơ sở vật chất, đào tạo cán bộ. Một trong những nhân tố quan trọng góp phần cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả chính là con người. Nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán phải nhìn ở hai góc độ: cán bộ nhân viên làm trong các cơ quan, tổ chức trong ngành chứng khoán và công chúng đầu tư. Đối tượng đầu tiên bao gồm các chuyên gia, chuyên viên làm việc tại cơ quan quản lý điều hành thị trường như Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, ở các Bộ, ngành Tài chính, Ngân hàng, Kế hoạch đầu tư, Tư pháp; là các nhân viên, nhà tư vấn làm việc tại Sở Giao dịch hoặc các tổ chức tài chính, công ty chứng khoán.
Thời gian qua, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã tổ chức đào tạo cho nhiều đối tượng nêu ở trên, với nhiều hình thức khác nhau. Để có thể xây dựng được một chiến lược đào tạo lâu dài cho ngành chứng khoán, việc đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo chứng khoán là việc rất cần thiết, một quá trình cốt lõi của hệ thống quản lý đào tạo nói chung và đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán nói riêng. Đánh giá về số lượng (Đánh giá các tiêu chí định tính) Kể từ khi thành lập đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã qua rất nhiều phiên giao dịch. Có thể nói, mặc dù chưa phát huy được vai trò là kênh huy động vốn chính cho nền kinh tế nhưng thị trường chứng khoán đã bước đầu tạo được một "sân chơi" chung cho các nhà đầu tư.
Qua mua bán, giao dịch trên thị trường, người đầu tư dần dần làm quen và tích luỹ được những kinh nghiệm cần thiết để tham gia vào lĩnh vực mới mẻ này. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, chưa phải đông đảo các tầng lớp công chúng tham gia "sân chơi" đầu tư chứng khoán. Lý do của việc đó thể hiện trên nhiều khía cạnh, nhưng một trong những nguyên nhân chính là việc trang bị kiến thức cho công chúng chưa được đầu tư 8 nhiều nên trình độ hiểu biết của họ về chứng khoán và thị trường chứng khoán còn rất nhiều hạn chế. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã tiến hành nhiều cuộc điều tra trình độ dân trí trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán ở công chúng đầu tư miền Nam và miền Bắc.
Đây là một việc làm rất quan trọng và cần thiết bởi sự hạn chế về nhận thức trong lĩnh vực chứng khoán dễ dẫn đến những đánh giá lệch lạc vai trò tích cực của thị trường chứng khoán, hoặc là đưa đến các quyết định sai lầm trong đầu tư và có thể là cơ hội cho những phần tử xấu trục lợi làm rối loạn thị trường. Sự thiếu hiểu biết về hoạt động của thị trường chứng khoán cũng làm giảm sút sự quan tâm và ủng hộ của xã hội đối với việc huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán, làm giảm hiệu quả của thị trường. Đối tượng công chúng được chọn để Uỷ ban chứng khoán điều tra khá rộng, bao gồm: các hộ gia đình, cán bộ công nhân viên, sinh viên và các doanh nghiệp. Các hộ gia đình thuộc mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội, cán bộ công nhân viên và sinh viên đang làm việc và học tập trong các cơ quan và ngành nghề khác nhau và các doanh nghiệp đang hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau.
Đây là những nhóm đối tượng được đánh giá sẽ tích cực hưởng ứng hoạt động của thị trường chứng khoán, với tư cách là các nhà đầu tư tương lai của thị trường chứng khoán. Theo kết quả điều tra các nhóm đối tượng trên cho thấy, đại bộ phận công chúng đều rất quan tâm đến thị trường chứng khoán (90,3%). Trong đó cán bộ công nhân viên và sinh viên là nhóm quan tâm nhiều nhất (45,7%), tiếp đến là các hộ gia đình (27,25%).