Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO KHU VỰC CÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này có thể gồm: lực, trí lực của mỗi con người được đem ra sử dụng trong quá trình lao động sản xuất [18, tr. Vậy thể lực, trí lực của con người được hiểu: Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, chế độ dinh dưỡng, làm việc và nghỉ ngơi, tuổi tác,… còn trí lực chỉ sự hiểu biết, kỹ năng, sự tiếp thu kiến thức, tài năng cũng như quan điểm, nhân cách của từng người [19, tr.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Khánh: Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể và đến một mức nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động và có sức lao động [7]. Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân lực, nên có thể khái niệm nhân lực tổng hợp tất cả sức lực cơ thể con người, làm cho con người có thể tham gia vào các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, sản xuất, kinh doanh. Nguồn nhân lực: NNL là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, là nguồn lực con người nên có nhiều yếu tố khác với nguồn lực khác. Bởi con người là một thực thể sinh vật xã hội trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của các yếu tố tự nhiên, xã hội tâm lý,… NNL một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển của tổ chức, mặt khác NNL là mục tiêu của chính sự phát triển của tổ chức.
NNL gồm số lượng và chất lượng; số lượng là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự phát triển KT-XH, còn chất lượng thể hiện ở thể lực, trí 9 lực và phẩm chất tâm lý xã hội của nguồn lực con người. Do vậy, thuật ngữ NNL được định nghĩa khác nhau như: Theo Liên Hiệp Quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [30].VS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, một địa phương sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó”[20]. Nguồn lực con người được coi là nguồn lực quan trọng nhất “quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” [11, tr. Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu nguồn nhân lực là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động cùng các tiêu chí về trí lực, thể lực và nhân cách con người mà được quốc gia hay địa phương huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Nguồn nhân lực chất lượng cao Ngày nay các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng NNL do xã hội ngày càng phát triển. Đối với nước ta để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế thì đòi hỏi đội ngũ NNL có chất lượng, năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng nhanh với khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Do vậy, hình thành nên thuật ngữ NNL chất lượng cao nhưng đến nay thì thuật ngữ NNL chất lượng cao được các nhà nghiên cứu quan niệm và hiểu theo nhiều cách khác nhau như: Theo GS. Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa” [21, tr.
Tại ĐH Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đưa ra quan niệm NNL chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của NNL đất nước, đó là những “cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn” [14, tr. 10 Các Mác (Karl Marx) thì quan niệm NNL chất lượng cao là “Những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn”. Theo Giáo sư Chu Hảo thì “NNL chất lượng cao trước hết phải được thừa nhận trên thực tế, không phải dạng tiềm năng. Điều đó có nghĩa là nó không đồng nghĩa với học vị cao.
NNL chất lượng cao là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội”. Khái niệm này xem xét NNL ở góc độ năng lực thực tế của người lao động được đo bằng chất lượng, hiệu quả mà không dựa trên bằng cấp đã qua đào tạo. Tuy nhiên, thực tế vẫn xem NNL chất lượng cao là những lao động được đào tạo có bằng cấp đầy đủ. Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề về chuyên môn kỹ thuật ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định như trên đại học, đại học, công nhân kỹ thuật lành nghề” [8].
Như vậy, khái niệm NNL chất lượng cao mang tính chất tương đối, một người có thể có tài năng trên lĩnh vực này nhưng lại bình thường trên các lĩnh vực khác. Vì thế, khi xem xét một người có thuộc NNL chất lượng cao hay không phải xác định tài năng của người đó trên một ngành, lĩnh vực, phạm vi nhất định. Ngoài những quan niệm trên, thuật ngữ NNL chất lượng cao có nội hàm cụ thể hơn để chỉ những người lao động có trình độ, năng lực trong các lĩnh vực sản xuất vật chất mang lại hiệu quả cao như nghệ nhân, chuyên gia, công nhân lành nghề hay trong lĩnh vực sản xuất tinh thần có những thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học, nhà khoa học, chuyên gia, nhân tài,. để tôn vinh NNL chất lượng cao.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể khái quát: NNL chất lượng cao là bộ phận tinh túy của NNL, gồm những người đã qua đào tạo bài bản, có khả năng sáng tạo, thích ứng nhanh với khoa học, công nghệ hiện đại. Đây là lực lượng nòng cốt trong quá trình lao động đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhằm góp phần cho sự phát triển chung của đất nước. Nguồn nhân lực chất lượng cao khu vực công 11 Đến nay, chưa có nghiên cứu cụ thể về khái niệm KVC, do vậy có thể hiểu thuật ngữ “khu vực công” là “khu vực nhà nước”. Theo đó, khu vực nhà nước là khu vực thuộc sở hữu nhà nước, thực hiện các hoạt động của xã hội, trong đó nhà nước giữ vai trò quyết định và chi phối như đất đai, sông ngòi, khoáng sản,… thuộc sở hữu nhà nước.
Ngoài ra, nhà nước còn sở hữu nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ; hệ thống các trường công lập; hệ thống các bệnh viện công;… Hay phân biệt KVC và khu vực tư theo nguồn tài chính, theo đó KVC được nhà nước cấp ngân sách để hoạt động. Các nguồn thu của KVC chủ yếu từ thuế, phí và lệ phí dùng để chi tiêu cho các hoạt động của các cơ quan nhà nước như lương, thưởng, chi phí cho các hoạt động cung cấp dịch vụ công,. Tóm lại, KVC là khu vực tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phục vụ các nhu cầu phát triển chung của xã hội. KVC có chức năng chủ yếu là bảo đảm trật tự xã hội thông qua hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động cung cấp dịch vụ công ích cho xã hội.
Như vậy, có thể hiểu KVC là khu vực hoạt động do nhà nước làm chủ sở hữu, được nhà nước trao quyền lực để thực hiện việc quản lý xã hội bằng các văn bản luật và văn bản dưới luật, nhằm đảm bảo trật tự xã hội thông qua hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động cung cấp dịch vụ công để hướng đến lợi ích chung cho cộng đồng xã hội. NNL chất lượng cao KVC được coi là đội ngũ CBCCVC đang làm việc trong các cơ quan nhà nước có phẩm chất và sức khỏe tốt, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ, biết sáng tạo, vận dụng kiến thức đã được đào tạo vào quá trình thực hiện nhiệm vụ nhằm góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của cơ quan, đơn vị công tác đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. NNL chất lượng cao KVC là những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, những chuyên gia, nhà nghiên cứu khoa học, công nghệ hay đội ngũ công nhân, lao động lành nghề… đây là lực lượng nòng cốt, đầu tàu đáp ứng nhanh yêu cầu phát triển KT-XH. NNL chất lượng cao KVC là một bộ phận của NNL hoạt động trong các cơ quan nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân nên phải tôn trọng, thực hiện quyền lợi hợp pháp cho nhân dân; đồng thời, đảm bảo tính công khai, minh bạch, 12 dân chủ, công bằng và chỉ được làm những gì pháp luật cho phép nhưng phải tuân thủ nguyên tắc thống nhất, liên tục theo trình tự, thứ bậc hành chính.
Do vậy, để có NNL chất lượng cao KVC ngoài việc thu hút những người có trình độ cao từ các cơ sở đào tạo có uy tín thì cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, kỹ năng làm việc,… cho đội ngũ NNL hiện có cũng như có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho NNL thu hút được. Trên phương diện tiếp cận NNL chất lượng cao đối với sự phát triển của xã hội, các nhà khoa học quan niệm “Nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công là những người có sức khỏe, có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao, có năng lực công tác tốt, có phẩm chất đạo đức công vụ, luôn chủ động học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chủ động trong hội nhập.