Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực luôn giữ vị trí trung tâm và là nhân tố nội sinh quyết định sự thành bại của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đối với một địa phương miền núi Tây Nguyên vừa được thành lập trên cơ sở chia tách địa giới hành chính, bài toán nguồn nhân lực càng trở nên cấp bách. Năm 2005, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Đắk Nông chỉ đạt khoảng 393 USD, tương đương 61,4% mức bình quân chung của cả nước, trong khi tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới chiếm tới 33,7% với 28.285 hộ, đặc biệt tỷ lệ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ lên đến 64%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2004 - 2005 đạt mức ấn tượng 12,7%/năm, quy mô lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 212.534 người (chiếm 52% dân số), nhưng chất lượng nguồn nhân lực lại chưa tương xứng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm tới 84,7%.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phân tích toàn diện thực trạng số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động tại Đắk Nông từ thời điểm chia tách tỉnh ngày 01/7/2004 đến năm 2005; từ đó xác lập hệ thống giải pháp mang tính chiến lược cho giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2015. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 6 huyện và 1 thị xã với 61 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để kéo giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 79,6% xuống dưới 50%, đồng thời nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 15,37% lên mức 40% vào năm 2010, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin về vai trò của con người là chủ thể sáng tạo của lực lượng sản xuất và Lý thuyết Vốn con người hiện đại theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới và chuyên gia kinh tế Jacques Hallak. Theo đó, vốn con người bao gồm tổng hòa thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp và phong cách làm việc được tích lũy thông qua đầu tư giáo dục, y tế và đào tạo. Đề tài vận dụng mô hình tương tác đa chiều giữa 6 nhóm nhân tố chi phối quá trình phát triển nguồn nhân lực: trình độ phát triển kinh tế, hệ thống giáo dục - đào tạo, tốc độ gia tăng dân số, truyền thống văn hóa dân tộc, chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Nguồn nhân lực (toàn bộ lực lượng lao động xã hội có khả năng tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất và tinh thần); Vốn con người (năng lực thể chất, trí tuệ và kỹ năng đã được đào tạo); Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (quá trình chuyển đổi căn bản các hoạt động kinh tế từ lao động thủ công sang sử dụng công nghệ tiên tiến); Chỉ số phát triển con người HDI (thước đo tổng hợp về tuổi thọ, học vấn và thu nhập); Cơ cấu nguồn nhân lực (tỷ lệ phân bố lao động theo trình độ, ngành nghề kinh tế và vùng lãnh thổ). Ngân hàng Thế giới từng xếp hạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đứng thứ 11 trong 12 quốc gia châu Á được khảo sát với điểm số 3,79/10, phản ánh mức độ thiếu hụt nghiêm trọng về kỹ năng công nghệ cao (đạt 2,50 điểm) và trình độ ngoại ngữ (đạt 2,62 điểm), đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung lý thuyết phát triển nhân lực cho các địa phương đặc thù.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2001 - 2005, Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2004 - 2006 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Nông lần thứ I. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ tổng thể 212.534 người trong độ tuổi lao động trên địa bàn toàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thống kê toàn diện được áp dụng theo hai tiêu chí chính: địa bàn cư trú (khu vực thành thị chiếm gần 20% với 42.506 người, khu vực nông thôn chiếm hơn 80% với 170.028 người) và cơ cấu dân tộc (31 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm 70,58%, người Mơ Nông chiếm 9,1%, người Nùng chiếm 5,69%, người Tày chiếm 4,58% và người H Mông chiếm 3,79%).

Phương pháp duy vật biện chứng và trừu tượng hóa khoa học được lựa chọn làm nền tảng phân tích nhằm phát hiện bản chất các mối liên hệ nhân quả giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến động cung - cầu lao động. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh liên ngành và cân đối lao động xã hội là vì các phương pháp này phản ánh chân thực các bất cập về trình độ chuyên môn kỹ thuật trong điều kiện xuất phát điểm kinh tế thấp, đồng thời giúp lượng hóa chính xác mức độ dôi dư cung lao động. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai theo tiến trình: hồi cứu dữ liệu phát triển kinh tế 2001 - 2005, đánh giá thực trạng chi tiết tại thời điểm chia tách tỉnh 2004 - 2005 và dự báo các chỉ tiêu phát triển nhân lực giai đoạn 2006 - 2010 định hướng đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông trẻ, dồi dào nhưng tăng trưởng cơ học phức tạp tạo áp lực lớn lên cán cân việc làm. Số người trong độ tuổi lao động năm 2005 đạt 212.534 người, tỷ lệ tăng tự nhiên hàng năm duy trì trên 2%. Tốc độ tăng dân số bình quân năm 2005 đạt 2,81%, cao gấp 2,34 lần so với mức tăng trung bình của cả nước (1,20%). Hàng năm có khoảng 11.743 người bước vào độ tuổi lao động. Theo tính toán cân đối cung cầu, năm 2006 mức cung lao động là 217.847 người trong khi nhu cầu của nền kinh tế chỉ đạt 174.414 người, dẫn đến tình trạng dư thừa 43.433 lao động (tương đương 19,93% tổng lực lượng lao động đối mặt nguy cơ thiếu việc làm).

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực ở mức thấp so với mặt bằng chung của khu vực và quốc gia. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của tỉnh năm 2005 chỉ đạt 15,37% (tương ứng 32.666 người), thấp hơn tỷ lệ bình quân cả nước 9,96% (toàn quốc đạt 25%) và thấp hơn mức bình quân khu vực Tây Nguyên 1,92%. Số lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm tới 84,7% (179.868 người). Về mặt bằng học vấn, tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 24,29% (cả nước là 17,13%), trong khi tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ đạt 19,24% (cả nước là 21,3%). Thể lực của người lao động còn hạn chế khi tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng lên tới 35,2%.

Thứ ba, cơ cấu đào tạo và cơ cấu sử dụng lao động theo ngành kinh tế biểu hiện sự bất cập sâu sắc. Cơ cấu trình độ đào tạo tồn tại nghịch lý nghiêm trọng: tỷ lệ lao động có trình độ đại học đạt 2,93% (6.227 người), cao hơn tỷ lệ công nhân kỹ thuật có bằng nghề chỉ chiếm 1,51% (3.209 người) và trung học chuyên nghiệp chiếm 5,21% (11.073 người), tạo ra hiện tượng thừa thầy thiếu thợ. Cơ cấu phân bổ lao động phản ánh nền kinh tế thuần nông khi ngành nông - lâm - thủy sản thu hút tới 79,6% lao động (đóng góp 59,7% GDP), trong khi ngành công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 3,5% lao động (đóng góp 17,3% GDP) và khu vực dịch vụ chiếm 16,9% lao động (24.695 người).

Thứ tư, sự phân bổ lao động theo thành phần kinh tế mang tính cục bộ và hiện tượng thất thoát nhân lực trình độ cao. Kinh tế cá thể và hộ gia đình chiếm giữ tới 85,52% lao động (150.864 người), khu vực kinh tế nhà nước chiếm 4,09%, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI chỉ chiếm 0,3% với 531 lao động. Toàn tỉnh chỉ có 05 cơ sở dạy nghề với 72 giáo viên, trong đó vỏn vẹn 10 giáo viên đạt chuẩn sư phạm kỹ thuật. Đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã, phường còn thiếu chuẩn hóa, trong khi phần lớn sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi các khối ngành kinh tế, kỹ thuật, y tế không quay về địa phương làm việc do thiếu cơ chế trọng dụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, cơ sở hạ tầng giao thông cách trở và tác động tiêu cực của làn sóng di dân tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc với 1.487 nhân khẩu giai đoạn 2000 - 2006. Mạng lưới trường lớp thiếu thốn trầm trọng khi toàn tỉnh có 238 trường nhưng chỉ có 4 trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ giáo viên trung học cơ sở chỉ đạt 1,6 giáo viên/lớp (quy định là 1,85).

Những phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu kinh tế về nguồn nhân lực của các tác giả đầu ngành tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra tính chất đặc thù khắt khe tại địa bàn Tây Nguyên. Toàn bộ cấu trúc thực trạng này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu lao động theo ba khu vực kinh tế và biểu đồ cột so sánh tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa Đắk Nông (15,37%) với mặt bằng chung cả nước (25,00%), giúp làm nổi bật khoảng cách phát triển cần thu hẹp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch lại và hiện đại hóa hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông chủ trì, phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nâng cấp 05 cơ sở dạy nghề hiện có thành các trường trung cấp nghề đa hệ; đầu tư xây dựng mới 02 trung tâm dạy nghề tại huyện Đắk R'lấp và Cư Jút; bồi dưỡng 100% đội ngũ giáo viên dạy nghề đạt chuẩn sư phạm kỹ thuật, nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 15,37% lên mức 40% vào năm 2010.

Thứ hai, ban hành chính sách đột phá thu hút, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài. Hội đồng nhân dân và Sở Nội vụ tỉnh Đắk Nông xây dựng đề án hỗ trợ kinh phí trực tiếp một lần từ 20 đến 50 triệu đồng cho chuyên gia, bác sĩ, kỹ sư và sinh viên tốt nghiệp loại giỏi về công tác tại địa phương giai đoạn 2007 - 2012; đặt mục tiêu thu hút 300 - 500 trí thức trẻ chất lượng cao và chuẩn hóa 100% trình độ chuyên môn cho cán bộ công chức cấp xã, phường.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với phát triển công nghiệp chế biến khoáng sản và nông nghiệp công nghệ cao. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Đắk Nông phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn cho 15.000 - 20.000 lao động đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; chuẩn bị nhân lực kỹ thuật cung ứng cho các dự án khai thác bô-xít Nhân Cơ, nhà máy thủy điện Đray H'linh II công suất 16MW và thủy điện Buôn Kốp, phấn đấu giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống dưới 50% vào năm 2015.

Thứ tư, nâng cao thể lực và sức khỏe cộng đồng cho lực lượng lao động tương lai. Sở Y tế phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo nâng mức chi tiêu y tế bình quân đầu người từ 6 USD/năm lên 15 USD/năm giai đoạn 2006 - 2010; triển khai chương trình dinh dưỡng học đường tại 61 xã, phường để giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 35,2% xuống dưới 20% vào năm 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng các Nghị quyết chuyên đề về phát triển nguồn nhân lực và quy hoạch ngân sách đầu tư giáo dục dạy nghề giai đoạn 2006 - 2020.

Nhóm thứ hai là các nhà quản lý thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Nông. Dữ liệu chi tiết về 212.534 lao động và thực trạng 84,7% lao động chưa qua đào tạo nghề là cơ sở thực tiễn để đổi mới chương trình đào tạo, mở mã ngành dạy nghề kỹ thuật đón đầu các tổ hợp công nghiệp alumin và nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu.

Nhóm thứ ba là các chuyên gia nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển và Quản lý công. Công trình đóng góp mô hình phân tích nguồn nhân lực đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số với 31 dân tộc, làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu kinh tế vùng.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, nhà đầu tư tại các khu công nghiệp Tâm Thắng, Nhân Cơ và các dự án năng lượng. Nắm rõ đặc điểm 85,52% lao động thuộc khu vực kinh tế hộ gia đình giúp các doanh nghiệp thiết lập phương án tuyển dụng, đào tạo nội bộ và xây dựng chế độ tiền lương phù hợp với mặt bằng lao động địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng lớn nhất của nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn nghiên cứu là gì?

Lực lượng lao động của tỉnh dồi dào với 212.534 người trong độ tuổi (chiếm 52% dân số) nhưng chất lượng rất thấp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 15,37%, thấp hơn nhiều so với mức 25% của cả nước. Hơn 84,7% lao động chưa qua đào tạo nghề và 79,6% tập trung trong nông nghiệp lạc hậu, tạo ra rào cản lớn cho tiến trình công nghiệp hóa địa phương.

Tại sao Đắk Nông xảy ra nghịch lý vừa thừa vừa thiếu lao động cho công nghiệp hóa?

Tỉnh dư thừa lớn lao động phổ thông chưa qua đào tạo với mức vượt cung ước tính 43.433 người năm 2006 (chiếm 19,93%), nhưng lại thiếu trầm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề và chuyên gia. Cơ cấu đào tạo bất hợp lý khi tỷ lệ đại học đạt 2,93% trong khi lao động có bằng nghề chỉ chiếm 1,51%, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của các dự án bô-xít và thủy điện.

Yếu tố di dân tự do tác động như thế nào đến chất lượng nguồn nhân lực tại Đắk Nông?

Giai đoạn 2000 - 2006, có 1.487 nhân khẩu từ các tỉnh miền núi phía Bắc di cư đến Đắk Nông theo tập quán du canh du cư. Lực lượng này chủ yếu cư trú vùng sâu, tỷ lệ mù chữ cao, đời sống khó khăn và con em khó tiếp cận trường học, làm suy giảm mặt bằng dân trí chung và gia tăng tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh lên 33,7%.

Giải pháp nào mang tính then chốt để nâng cao chất lượng lao động đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ?

Trọng tâm là phổ cập giáo dục gắn liền với dạy nghề ngắn hạn thực hành trực tiếp cho hơn 19.359 lao động Mơ Nông và các dân tộc thiểu số khác. Cần đầu tư trường dân tộc nội trú, xóa mù chữ cho người lớn và miễn giảm 100% học phí học nghề nông - lâm sản công nghệ cao gắn với các chương trình khuyến nông tại 61 xã, phường.

Dự án đường Hồ Chí Minh và khai thác khoáng sản Bô-xít mở ra cơ hội gì cho nguồn nhân lực địa phương?

Tuyến đường Hồ Chí Minh giúp Đắk Nông phá vỡ thế cô lập, kết nối giao thương hàng hóa, trong khi các tổ hợp khai thác Bô-xít - Luyện Alumin Nhân Cơ và thủy điện Buôn Kốp tạo ra hàng chục nghìn việc làm kỹ thuật mới. Đây là cơ hội vàng để địa phương chuyển dịch 10.000 - 15.000 lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật.

Kết luận

  • Khẳng định nguồn nhân lực là tiền đề nội sinh giữ vai trò quyết định thắng lợi của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại một tỉnh miền núi mới thành lập như Đắk Nông.
  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quy mô 212.534 lao động với các điểm nghẽn then chốt: 84,7% chưa qua đào tạo nghề, 79,6% lao động tập trung trong khu vực nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo lên tới 33,7%.
  • Nhận diện rõ 6 nhóm nhân tố tác động và hiện tượng mất cân đối cơ cấu đào tạo khi tỷ lệ đại học đạt 2,93%, cao gấp gần 2 lần tỷ lệ công nhân có bằng nghề (1,51%), dẫn đến khủng hoảng thừa thầy thiếu thợ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ: hiện đại hóa 05 cơ sở dạy nghề, ban hành chính sách thu hút nhân tài, chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp bô-xít và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 20%.
  • Xác định lộ trình hành động trọng tâm giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn 2015 nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40%, đưa Đắk Nông từng bước hội nhập vững chắc vào nền kinh tế cả nước.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có tính ứng dụng cao cho công tác quản lý nhân lực tại địa phương đặc thù miền núi Tây Nguyên. Các cấp ủy đảng, chính quyền và cơ quan ban ngành tỉnh Đắk Nông cần khẩn trương quán triệt, đưa các giải pháp vào chương trình hành động kinh tế - xã hội để biến tiềm năng nhân lực dồi dào thành sức mạnh phát triển bền vững.