Chương 1 NHữNG VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN Về NGUồN NHÂN LựC CHO CÔNG NGHIệP HóA, HIệN ĐạI HóA ở việt nam 1. khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Niệt Nam 1. Khái niệm nguồn nhân lực Đối với nước ta, CNH, HĐH là con đường tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát triển nền kinh tế theo định hướng CNXH. Để tiến hành CNH, HĐH cần phải có các nguồn lực cần thiết bao gồm nguồn lực con người; nguồn lực đất đai, tài nguyên; nguồn lực tài chính; nguồn lực khoa học công nghệ… Trong đó nguồn lực con người, hay nguồn nhân lực là quan trọng nhất.
Trong nền kinh tế nào cũng vậy, nguồn nhân lực bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Ngay cả trong nền kinh tế kém phát triển, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, trình độ hiểu biết của con người còn thấp, thì con người vẫn là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế lại càng rõ nét hơn. Trong nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh quyết liệt thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao.
Vì vậy, hiện nay trong chiến lược phát triển của mình, nhiều quốc gia đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp quốc thì "NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước" [41, tr. Theo Cơ quan phát triển của Liên Hợp quốc UNDP, thì NNL là tổng thể những năng lực của con người được huy động vào quá trình sản xuất.
Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Theo các tác giả của cuốn "Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" do GS. TSKH Lê Du Phong chủ biên thì "Nguồn lực con người được hiểu là tổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người [22, tr.
Lại có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là trình độ hành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống của con người để phát triển kinh tế của một vùng, một đất nước… Bộ môn " Kinh tế phát triển" đưa ra khái niệm nguồn nhân lực một cách cụ thể hơn: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng, đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm việc làm. Cũng như nguồn nhân lực, nguồn lao động được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng.
Theo khái niệm này, có một số người được tính là nguồn nhân lực, nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 người không có việc làm nhưng không tích cực tìm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học… [34, tr. Như vậy, có thể hiểu, nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia với những năng lực thể chất và tinh thần, trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và phong cách, phẩm chất nhất định đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn nhân lực có những đặc trưng về số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với quá trình CNH, HĐH nói riêng.
ở nước ta số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động (nam 15-60, nữ 15-55). Vì theo Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Năm 1994 thì “người lao động phải ít nhất đủ 15 tuổi”. Luật lao động đã quy định giới hạn của độ tuổi lao động đối với nam là 60, nữ là 55. Khi tính toán khả năng cung cấp lực lượng lao động cho xã hội, người ta phải tính đến các chỉ số về dân số, tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân số: Số dân ở độ tuổi lao động, số người ăn theo, số người có việc làm, số người thất nghiệp…Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực, có nghĩa là sự gia tăng sau 15 năm sẽ kéo theo sự gia tăng nguồn nhân lực.
Nhưng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không làm giảm ngay lập tức nhịp độ tăng nguồn nhân lực. Như vậy, NNL bao gồm số người đang làm việc trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội hay số người có việc làm; số người thất nghiệp; số người làm công việc nội trợ và học sinh trong độ tuổi lao động hay lao động dự nguồn. Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên quan đến nhiều quá trình kinh tế - xã hội. Trong nền kinh tế thị trường việc làm được xem là những hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đem lại thu nhập.
Theo Bộ Luật Lao động 1994 thì mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị luật pháp cấm đều được thừa nhận là việc làm. Như vậy người có việc làm là những người đang hoạt động ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị xã hội, các thành phần kinh tế và cả những người trong độ tuổi lao động làm công việc nội trợ. Những người đang làm việc, đang lao động trong nền kinh tế quốc dân (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế tích cực) là bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và kinh tế - xã hội nói riêng. Vì vậy, vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động quy định, có khả năng lao động, muốn lao động, nhưng đang chưa có việc làm và đang tìm việc làm. Khi xem xét NNL cho CNH, HĐH cần phải tính toán đến số người này để tìm giải pháp đào tạo, huy động họ tham gia vào quá trình CNH, HĐH đất nước, vì tạo thêm công ăn việc làm cũng chính là một trong những mục tiêu của CNH, HĐH ở nước ta. Về chất lượng NNL được biểu hiện ở trạng thái thể lực, trí lực, phong cách làm việc: Trạng thái sức khỏe, trình độ học vấn, nhân cách, lối sống, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp… Trong đó, thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để chuyển tải tri thức của con người vào thực tiễn; trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất vì nó không chỉ là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp mà còn là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi con người. Tất cả các yếu tố đó tạo thành vốn con người, vốn nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến nhiều lĩnh vực như đảm bảo dinh dưỡng chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hội khác. Như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 vậy, khi xem xét chất lượng nguồn nhân lực không thể không xem xét những điều kiện phát triển con người của đất nước. Theo ý nghĩa đó thì chất lượng NNL còn được thể hiện gián tiếp qua chỉ số phát triển con người (HDI). Theo cơ quan phát triển Liên hiệp quốc UNDP, thì sự phát triển nhân lực của các quốc gia có thể so sánh với nhau bằng chỉ số phát triển con người (HDI).
HDI là một chỉ tiêu tổng hợp, là giá trị trung bình của 3 chỉ tiêu: tuổi thọ trung bình; trình độ giáo dục tính tổng hợp theo tỷ lệ số người đi học tiểu học, trung học và sau trung học và tỷ lệ biết chữ của người lớn; thu nhập bình quân đầu người. Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác dụng làm tăng năng suất lao động. Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật, một nước cần và có thể đưa chất lượng NNL vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, hòa nhập với trình độ phát triển của nhân loại. Để có thể trở thành vốn nhân lực, con người phải được giáo dục, được đào tạo để có những kiến thức chuyên môn ngày càng cao, có sức khỏe tốt để phát triển con người.
Phát triển con người là sự mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao cơ hội lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững. Theo cách tiếp cận này, phát triển con người không phải là sự gia tăng về thu nhập và của cải vật chất (mặc dù rất quan trọng) mà là mở rộng các khả năng của con người, tạo cho con người có cơ hội tiếp cận với nền giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt hơn, có chỗ ở tiện nghi hơn, có việc làm và ý nghĩa hơn. Phát triển con người còn là tăng cường năng lực, trước hết là nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc của họ.