Công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Viện Khoa học TDTT

Luận văn phân tích thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện Viện Khoa học TDTT, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.

Chuyên ngành

Thư viện - Thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2011

85
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của việc phát triển nguồn lực thông tin thư viện TDTT

Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, thông tin được xem là nguồn tài nguyên chiến lược, quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Đối với lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT), vai trò này càng được khẳng định mạnh mẽ. Phát triển nguồn lực thông tin thư viện thể dục thể thao không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành thư viện mà còn là nền tảng cốt lõi cho công tác nghiên cứu, đào tạo và huấn luyện. Một nguồn lực thông tin (NLTT) mạnh, được tổ chức khoa học sẽ cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chiến lược, nâng cao thành tích thể thao và phát triển con người toàn diện. Tại các đơn vị chuyên ngành như Viện Khoa học Thể dục thể thao, NLTT đóng vai trò là "bộ nhớ tri thức", lưu trữ và phổ biến các công trình nghiên cứu, tài liệu chuyên khảo, giáo trình và các dạng vật mang tin khác. Theo Pháp lệnh Thư viện Việt Nam, nhiệm vụ của các cơ quan thông tin - thư viện là "thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác, sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức" [15]. Do đó, việc xây dựng và không ngừng làm giàu vốn tài liệu thư viện là yêu cầu cấp thiết, giúp các nhà khoa học, huấn luyện viên, và vận động viên tiếp cận thông tin chính xác, cập nhật, từ đó rút ngắn thời gian nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học vào thực tiễn. Một chiến lược phát triển thông tin thư viện hiệu quả sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh, góp phần đưa nền TDTT nước nhà hội nhập và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa.

1.1. Khái niệm và cấu trúc tài nguyên thông tin khoa học TDTT

Tài nguyên thông tin khoa học và công nghệ TDTT là tập hợp có hệ thống các sản phẩm trí tuệ, kiến thức, và dữ liệu được ghi lại dưới dạng vật chất hoặc số hóa, phục vụ cho hoạt động thực tiễn. Theo tác giả V.Knoppers, NLTT phải được cấu trúc và tổ chức để người dùng có thể khai thác theo nhiều cách khác nhau [13]. Cấu trúc này bao gồm tài liệu trên giấy (sách, báo, tạp chí, luận án) và nguồn tin điện tử TDTT (cơ sở dữ liệu, CD-ROM, website). Mỗi thành phần đều có vai trò riêng, hỗ trợ lẫn nhau để tạo nên một hệ thống thông tin hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng.

1.2. Vai trò NLTT trong nghiên cứu tại Viện Khoa học TDTT

Tại Viện Khoa học Thể dục thể thao, NLTT là nền tảng không thể thiếu cho các hoạt động nghiên cứu. Nhờ khai thác hiệu quả vốn tài liệu, Viện đã thực hiện thành công hàng chục đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ. Các công trình tiêu biểu như “Phân tích kỹ thuật của vận động viên tiêu biểu ở một số môn thể thao trong không gian 3 chiều” (2005) hay “Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn thể hình - thể lực... để tuyển chọn nam vận động viên Karatedo” (2008) đều cần đến một nguồn tư liệu tham khảo phong phú và đáng tin cậy. Dịch vụ thông tin thư viện thể thao hiệu quả giúp các nhà khoa học tiết kiệm 30-50% thời gian làm việc, tránh trùng lặp trong nghiên cứu và nâng cao chất lượng sản phẩm khoa học.

II. 04 Rào cản phát triển nguồn lực thông tin thư viện TDTT

Mặc dù nhận thức rõ tầm quan trọng, công tác phát triển nguồn lực thông tin thư viện thể dục thể thao tại nhiều đơn vị, điển hình là Trung tâm Thông tin - Thư viện Viện Khoa học TDTT, vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Những rào cản này không chỉ đến từ yếu tố khách quan như kinh phí mà còn từ các vấn đề nội tại trong công tác bổ sung tài liệu thể thao và quản lý. Thực trạng cho thấy nguồn kinh phí cấp cho hoạt động bổ sung còn rất hạn hẹp, chỉ khoảng 10-15 triệu đồng mỗi năm, một con số quá khiêm tốn so với giá cả thị trường sách và tạp chí ngoại văn ngày càng tăng. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tài liệu mới nhập về. Bên cạnh đó, việc thiếu một chính sách phát triển nguồn lực thông tin được văn bản hóa một cách chính thức khiến hoạt động bổ sung còn mang tính tự phát, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của cán bộ phụ trách. Sự mất cân đối trong cơ cấu vốn tài liệu, đặc biệt là giữa tài liệu tiếng Việt và tiếng nước ngoài, giữa tài liệu truyền thống và tài liệu số, cũng là một vấn đề nhức nhối. Việc đánh giá nguồn lực thông tin thư viện một cách có hệ thống chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến tình trạng tài liệu cũ, lạc hậu chiếm dụng không gian kho mà không mang lại giá trị sử dụng cao. Những thách thức này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ để đổi mới hoạt động thư viện đại học TDTT.

2.1. Hạn chế về kinh phí và chính sách bổ sung chưa hợp lý

Theo khảo sát, nguồn kinh phí bổ sung tại Trung tâm TT-TV Viện KHTDTT chỉ đạt 10-15 triệu/năm, trong đó 30% dành cho ấn phẩm định kỳ và 65% cho sách. Mức ngân sách này không đủ để mua các tài liệu ngoại văn có giá trị cao, buộc thư viện phải dùng biện pháp thay thế như photocopy, làm giảm chất lượng và tuổi thọ tài liệu. Thêm vào đó, Trung tâm chưa có một văn bản chính thức nào quy định về chiến lược phát triển thông tin thư viện, khiến việc lựa chọn tài liệu thiếu định hướng chiến lược dài hạn.

2.2. Sự mất cân đối trong cơ cấu vốn tài liệu hiện có

Cơ cấu vốn tài liệu thư viện hiện tại còn nhiều bất cập. Tài liệu tiếng Nga chiếm tỷ lệ rất lớn (42,9%) trong khi nhu cầu sử dụng của bạn đọc chỉ là 1.1%. Ngược lại, tài liệu tiếng Việt được 100% người dùng quan tâm nhưng chỉ chiếm 49.9% tổng số. Tương tự, tài liệu xuất bản trước năm 1990 chiếm tới 42% nhưng gần như không có nhu cầu sử dụng. Sự mất cân đối này cho thấy công tác bổ sung tài liệu thể thao chưa thực sự bám sát nhu cầu thực tế của người dùng.

2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin còn ở mức sơ khai

Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý thư viện chuyên ngành thể thao còn hạn chế. Mặc dù đã xây dựng CSDL SACH và CSDL LA trên phần mềm CDS/ISIS từ năm 1990, các cơ sở dữ liệu này vẫn chưa hoàn thiện và chưa được đưa ra phục vụ rộng rãi cho người dùng. Nguồn tài liệu điện tử chỉ có khoảng 80 đĩa CD-ROM, chủ yếu từ nguồn thu nhận nội bộ, chưa có kinh phí để mua các cơ sở dữ liệu khoa học thể thao trực tuyến từ các nhà xuất bản uy tín trên thế giới. Đây là một rào cản lớn trong bối cảnh xu hướng số hóa tài liệu thể dục thể thao đang ngày càng trở nên phổ biến.

III. Phương pháp xây dựng chiến lược phát triển nguồn tin hiệu quả

Để vượt qua các rào cản, giải pháp nền tảng là xây dựng một chiến lược phát triển nguồn lực thông tin hợp lý và được văn bản hóa. Đây là kim chỉ nam cho mọi hoạt động bổ sung, đảm bảo vốn tài liệu phát triển một cách cân đối, có hệ thống và bám sát mục tiêu của đơn vị. Một chính sách hiệu quả cần xác định rõ các tiêu chí lựa chọn tài liệu: diện đề tài ưu tiên, tỷ lệ các loại hình (sách, tạp chí, tài liệu số), cơ cấu ngôn ngữ, và độ sâu của nội dung. Việc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ thư viện và các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành để nắm bắt chính xác nhu cầu tin. Tài liệu tham khảo [14] định nghĩa: “Chính sách phát triển nguồn tin là một tài liệu thành văn bản, công bố chính thức... quy định các phương hướng cũng như cách thức xây dựng vốn tài liệu”. Việc xây dựng chính sách này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn kinh phí hạn hẹp mà còn là cơ sở để thực hiện đánh giá nguồn lực thông tin thư viện một cách khách quan. Cần định kỳ rà soát và thanh lọc các tài liệu cũ, lạc hậu, không còn giá trị sử dụng để giải phóng không gian và làm mới kho sách. Quá trình này giúp nâng cao chất lượng tổng thể của toàn bộ vốn tài liệu thư viện, biến thư viện thành một trung tâm tri thức năng động thay vì một kho lưu trữ tĩnh.

3.1. Biên soạn chính sách phát triển vốn tài liệu thư viện

Chính sách cần quy định rõ về diện đề tài bổ sung, ưu tiên các tài liệu chuyên ngành TDTT như y học thể thao, huấn luyện, lý luận TDTT. Đồng thời, cần xác định tỷ lệ hợp lý giữa sách (bổ sung từ 1-5 bản/đầu sách), báo-tạp chí và tài liệu điện tử. Ngôn ngữ bổ sung cần tập trung vào tiếng Việt và các ngoại ngữ có nhu cầu sử dụng cao như tiếng Anh. Việc này giúp công tác xây dựng nguồn tài liệu thư viện TDTT đi đúng hướng và có mục tiêu rõ ràng.

3.2. Tăng cường kinh phí và đa dạng hóa nguồn bổ sung

Cần kiến nghị ban lãnh đạo tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác phát triển NLTT. Ngoài nguồn mua, cần tích cực đa dạng hóa các nguồn bổ sung khác. Đẩy mạnh hoạt động trao đổi tài liệu với các trường đại học TDTT, thư viện quốc gia. Tích cực tìm kiếm các nguồn tài trợ, biếu tặng từ các tổ chức trong và ngoài nước như Hội đồng Anh, Quỹ Châu Á. Việc hợp tác và chia sẻ nguồn lực thông tin không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn làm phong phú thêm vốn tài liệu với những ấn phẩm quý hiếm.

IV. Hướng dẫn số hóa và xây dựng thư viện số thể dục thể thao

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, số hóa tài liệu thể dục thể thao là giải pháp đột phá để nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển nguồn lực thông tin thư viện thể dục thể thao. Số hóa không chỉ là việc chuyển đổi tài liệu từ dạng giấy sang dạng số mà còn bao gồm việc xây dựng các cơ sở dữ liệu khoa học thể thao có cấu trúc, dễ dàng tra cứu và truy cập từ xa. Quá trình này cần được thực hiện theo một lộ trình bài bản. Trước hết, cần ưu tiên số hóa các tài liệu xám, tài liệu quý hiếm có giá trị cao như luận án, luận văn, các công trình nghiên cứu khoa học nội bộ. Đây là những tài liệu độc quyền, không có trên thị trường và có nhu cầu khai thác lớn từ các nhà nghiên cứu. Tiếp theo là xây dựng các bộ sưu tập số chuyên đề về từng môn thể thao, y học thể thao, hoặc dinh dưỡng thể thao. Việc xây dựng một thư viện số trong lĩnh vực thể thao sẽ phá vỡ rào cản về không gian và thời gian, cho phép người dùng truy cập nguồn tin điện tử TDTT mọi lúc, mọi nơi. Để thực hiện thành công, cần đầu tư vào hạ tầng công nghệ thông tin (máy chủ, máy scan chuyên dụng, phần mềm quản trị thư viện số) và đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ năng lực để quản lý và vận hành hệ thống. Đây là một bước đi chiến lược nhằm hiện đại hóa thư viện và nâng cao năng lực thông tin cho người dùng.

4.1. Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học thể thao

Quy trình bắt đầu bằng việc lựa chọn tài liệu để số hóa, ưu tiên luận án và các nghiên cứu nội bộ. Sau đó, tiến hành quét tài liệu bằng thiết bị chuyên dụng, xử lý hình ảnh và sử dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học (OCR) để chuyển đổi thành văn bản có thể tìm kiếm. Dữ liệu sau đó được biên mục, mô tả bằng các siêu dữ liệu chuẩn và tích hợp vào cơ sở dữ liệu khoa học thể thao. Cần xây dựng một giao diện tra cứu thân thiện để người dùng dễ dàng khai thác.

4.2. Lợi ích của thư viện số trong lĩnh vực thể thao

Một thư viện số trong lĩnh vực thể thao cho phép truy cập đồng thời nhiều người dùng, không giới hạn về địa lý. Nó giúp bảo tồn các tài liệu gốc quý hiếm khỏi nguy cơ hư hỏng vật lý. Hơn nữa, thư viện số tạo điều kiện cho việc hợp tác và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện một cách dễ dàng, hình thành nên một mạng lưới tri thức chuyên ngành rộng lớn, phục vụ đắc lực cho sự phát triển của nền khoa học TDTT quốc gia.

V. Bí quyết nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác nguồn tin

Việc phát triển nguồn lực thông tin thư viện thể dục thể thao không chỉ dừng lại ở khâu bổ sung và số hóa, mà còn phải chú trọng đến việc tổ chức, quản lý và khai thác hiệu quả. Một nguồn tài liệu dù phong phú đến đâu cũng sẽ trở nên vô ích nếu người dùng không thể tìm thấy thông tin mình cần một cách nhanh chóng. Do đó, cần đổi mới hoạt động thư viện đại học TDTT theo hướng lấy người dùng làm trung tâm. Cần hoàn thiện hệ thống tra cứu, cả tra cứu truyền thống (phích mục lục) và hiện đại (OPAC - Online Public Access Catalog). Các CSDL đã xây dựng cần được đưa vào khai thác, phục vụ rộng rãi. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực thông tin cho người dùng là một nhiệm vụ quan trọng. Thư viện cần tổ chức các buổi hướng dẫn, tập huấn kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông tin, giới thiệu các nguồn tin mới, đặc biệt là các nguồn tin điện tử TDTT. Cung cấp các dịch vụ thông tin thư viện thể thao giá trị gia tăng như dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu, biên soạn các thư mục chuyên đề, tổng luận tài liệu... sẽ giúp người dùng tiết kiệm thời gian và tiếp cận thông tin một cách sâu sắc hơn. Yếu tố con người là then chốt, do đó cần nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ thư viện để họ thực sự trở thành những người dẫn đường tri thức.

5.1. Tối ưu hóa công tác tổ chức và quản lý thư viện

Cần sắp xếp, tổ chức kho tài liệu một cách khoa học, dễ tìm. Hoàn thiện và đưa vào sử dụng các CSDL thư mục để hỗ trợ tra cứu. Áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế trong công tác biên mục, phân loại để tạo thuận lợi cho việc hợp tác và chia sẻ nguồn lực thông tin trong tương lai. Quản lý thư viện chuyên ngành thể thao hiệu quả sẽ tối đa hóa giá trị sử dụng của vốn tài liệu hiện có.

5.2. Đa dạng hóa các dịch vụ thông tin thư viện thể thao

Ngoài các dịch vụ truyền thống như đọc tại chỗ, mượn về nhà, cần phát triển các dịch vụ hiện đại. Cung cấp dịch vụ sao chụp, in ấn tài liệu, tra cứu thông tin trực tuyến. Phát triển dịch vụ thông tin chọn lọc (SDI - Selective Dissemination of Information) cho các nhà khoa học, gửi thông tin mới phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu của họ qua email. Những dịch vụ thông tin thư viện thể thao này sẽ giúp thư viện trở nên gần gũi và thiết thực hơn với người dùng.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO 1.1 Vài nét về Viện Khoa học Thể dục thể thao TDTT là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa xã hội, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa, giáo dục giúp con người phát triển toàn diện. Mục tiêu cơ bản phát triển TDTT là góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân phục vụ cho việc bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh. Mục tiêu này đồng thời cũng được coi là giải pháp chiến lược lâu dài về con người mà trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là tài sản của quốc gia. Với quan điểm con người là vốn quý nhất của quốc gia, Đảng ta xem việc bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân là mối quan tâm hàng đầu, là vấn đề quan trọng gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, với hạnh phúc của nhân dân.

Trên thực tế, khoa học TDTT luôn là cơ sở, nền tảng gia tăng tốc độ phát triển TDTT, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ an ninh quốc phòng. Vì vậy, từ những ngày đầu xây dựng phong trào TDTT, khoa học TDTT đã được Đảng và Nhà nước ta chú trọng phát triển Ngay từ tháng 7 năm 1962, Phòng Huấn luyện và Y học TDTT của Uỷ ban TDTT đã ra đời, tới năm 1964, là Phòng nghiên cứu Y học TDTT. Tháng 4 năm 1971, Ban nghiên cứu khoa học, kỹ thuật TDTT - tiền thân của Viện Khoa học Thể dục thể thao - được Tổng cục Thể dục thể thao ra quyết định thành lập. Tháng 11 năm 1972, “Bản tin khoa học, kỹ thuật TDTT” xuất bản số đầu tiên.

Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Hương - Thư viện 39A 12 Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 35/CP ngày 24 tháng 1 năm 1979 thành lập Viện Nghiên cứu Thể dục thể thao. Khi mới thành lập, Viện chỉ có 3 phòng: Phòng Y học, Phòng Phương pháp và Phòng Bản tin Khoa học Kỹ thuật. Tháng 7 năm 1992, Viện Nghiên cứu Thể dục thể thao được đổi tên thành Viện Khoa học Thể dục thể thao, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Thể dục thể thao (theo nghị định 11/CP – TTG của Chính phủ). Tới tháng 7 năm 1997, Chính phủ quyết định thành lập Ủy ban Thể dục thể thao là cơ quan ngang Bộ, tạo thêm điều kiện thuận lợi để phát triển khoa học TDTT.

Tiếp đó, ngày 18/4/1998, Chủ nhiệm Ủy ban TDTT đã ra chỉ thị số 01/ 1998/ CT - UBTDTT về việc “ Tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình phát triển khoa học ngành thể dục thể thao đến năm 2000 ”, trong đó, xác định nhiệm vụ khoa học công nghệ cho Viện KHTDTT, các trường đại học, các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia, các sở TDTT có tiềm lực. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên của ngành TDTT điều chỉnh về công tác phát triển khoa học công nghệ TDTT, mở ra một giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới về kinh tế - xã hội của đất nước [4]. Vị thế của Viện KHTDTT ngày càng được khẳng định khi Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp Viện KHTDTT vào danh sách 41 viện nghiên cứu - phát triển khoa học và công nghệ của Nhà nước được tập trung đầu tư theo quyết định số 202/1998/QĐ - TTG ngày 16 tháng 10 năm 1998. Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Viện KHTDTT gồm có Ban Giám đốc và 9 phòng ban: Phòng tổ chức hành chính; Phòng Kế toán; Phòng Đào tạo và quản lý khoa học; Phòng phương pháp TDTT quần chúng; Phòng thí nghiệm thể thao thành tích cao; Phòng thí nghiệm tâm sinh lý và sinh hóa thể thao; Phòng nghiên cứu chiến lược phát triển TDTT; Trung tâm Thông Tin thư viện TDTT; Trung tâm công nghệ y – sinh học thể thao.

Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Hương - Thư viện 39A 13 Là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban Thể dục thể thao, Viện KHTDTT có các chức năng chủ yếu là nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ, phục vụ sự nghiệp TDTT; xây dựng hệ thống y học thể thao của ngành; chủ trì đào tạo tiến sĩ giáo dục học chuyên ngành TDTT và phát triển thông tin khoa học TDTT. Trong những năm qua, Viện KHTDTT không ngừng phát huy vai trò của một tổ chức khoa học đầu ngành, kết hợp với các tổ chức khoa học trong và ngoài nước, góp phần tích cực vào sự phát triển nền TDTT nước nhà. Những đóng góp chủ yếu của Viện và các nhà khoa học TDTT trong những năm gần đây có thể đúc kết như sau: Một là, khái quát lý luận, thực tiễn, phương pháp luận để chủ trì giúp Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển TDTT; xây dựng các chương trình, dự án trọng điểm TDTT. Hai là, xây dựng một số cơ sở sự nghiệp y học thể thao đầu tiên ở nước ta; từng bước đưa y - sinh học vào thể thao, góp phần từng bước chuyển đổi nhận thức về nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt Nam.

Ba là, công tác thông tin được duy trì và phát triển, tạp chí “ Khoa học thể thao ” được xuất bản theo kế hoạch. Viện có trang web riêng với địa chỉ http//www.vn thường xuyên cập nhật thông tin khoa học và các hoạt động khoa học TDTT quan trọng trong và ngoài nước. Bốn là, công tác tổ chức đào tạo nghiên cứu sinh có nhiều đóng góp tích cực. Tính đến tháng 11 năm 2009, Viện đã đào tạo được 59 tiến sĩ.

Số người đang theo học nghiên cứu sinh tại Viện là 58 người. Viện đã kết hợp với Học viện Quân Y đào tạo được 18 bác sĩ chuyên khoa chuyên ngành TDTT. Tập thể và các nhà khoa học của Viện đã được Chủ tịch nước tặng thưởng 01 Huân chương Lao động hạng nhì; 03 Huân chương Lao động hạng Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Hương - Thư viện 39A 14 ba; được Thủ tướng Chính phủ tặng 10 bằng khen và nhiều bằng khen cấp bộ. Hai nhà khoa học của Viện được tặng Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam ( VIFOTEC) năm 2004 [4].

Tới nay, sau gần 40 năm hình thành và phát triển, Viện KHTDTT đang ngày càng hoàn thiện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng như sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, của Tổng cục Thể dục Thể thao, hoàn toàn có thể tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp của khoa học công nghệ TDTT nói chung, của Viện KHTDTT nói riêng trong những năm tới 1.2 Hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Viện Khoa học Thể dục thể thao 1.1 Giới thiệu khái quát về Trung tâm Thông tin - Thư viện Viện Khoa học Thể dục thể thao Một trong những phòng ban có lịch sử gắn liền với sự ra đời của Viện KHTDTT là Trung tâm Thông tin - Thư viện. Là một TTTT - TV chuyên ngành được thành lập muộn hơn nhiều so với thư viện các viện nghiên cứu, các cơ quan tổ chức khác nên TTTT - TV của Viện gặp không ít khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và vốn tài liệu. Tuy vậy, Trung tâm cũng không ngừng cố gắng nỗ lực vươn lên nhằm phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp nghiên cứu của các nhà khoa học, cung cấp thông tin cần thiết bổ ích cho các vận động viên, huấn luyện viên trong quá trình học tập, nghiên cứu, huấn luyện và tập luyện, góp phần không nhỏ cho sự phát triển của Viện KHTDTT nói riêng và sự phát triển của ngành thể thao nước nhà nói chung.

Tiền thân của TTTT - TV hiện nay là Phòng Bản tin Khoa học kỹ thuật. Đây là một trong ba phòng được thành lập sớm nhất ngay từ khi Viện KHTDTT ra đời. Đến năm 1984, phòng này có tên gọi là Phòng Thông tin khoa học Thể dục thể thao. Trong quyết định 11/CP - TTG của Chính phủ Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Hương - Thư viện 39A 15 (tháng 7 năm 1997) về việc đổi tên Viện Nghiên cứu TDTT thành Viện KHTDT, phòng Thông tin Khoa học TDTT cũng được đổi tên thành Trung tâm Thông tin - Thư viện.

Từ nơi này đã có nhiều thế hệ cán bộ đã trưởng thành. Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập, tháng 10 năm 2009 Viện KHTDTT đã vinh danh các cán bộ từng công tác tại phòng như: PGS.TS Phạm Ngọc Viễn – nay là Giám đốc Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, TS nguyễn Thế Truyền – Nguyên phó viện trưởng Viện Khoa học Thể dục Thể thao, cố PGS.TS Nguyễn Kim Minh, TS Ngô Tử Hà – Nguyên phó vụ trưởng vụ Thể thao thành tích cao… [4]  Chức năng và nhiệm vụ của TTTT - TV Viện KHTDTT * Chức năng + Thu thập thông tin: Thu thập thông tin từ nguồn nội bộ hay các nguồn bên ngoài. Đây là yếu tố đảm bảo cho hệ thống thông tin được liên tục. + Xử lý thông tin: Là chức năng cơ bản của hệ thống thông tin, thực hiện các bài toán nhằm xử lý thông tin đầu vào, đầu ra hay thông tin lưu trữ phục vụ công tác nghiệp vụ; + Lưu trữ thông tin: Giúp cho Trung tâm có thể tạo lập nên các phương tiện kiểm soát thư mục, các điểm truy cập cho người dùng tin trong quá trình tra tìm tài liệu; + Phục vụ thông tin: Trung tâm đặc biệt chú trọng việc cung cấp thông tin cho hoạt động nghiên cứu khoa học thể thao, cập nhật những tiêu chuẩn, tiêu chí mới trong thể thao phục vụ cho các tổ chức, cá nhân, giúp ứng dụng lý luận vào hoạt động TDTT, góp phần bồi dưỡng nhân tài và phát triển con người toàn diện cho ngành TDTT, phục vụ cho sự nghiệp thể thao nước nhà.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ