Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát nguồn lực thông tin tại Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƢ VIỆN HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC THÔNG TIN 1. Khái niệm nguồn lực thông tin Thông tin (Information) là khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại ngày nay. Khái niệm thông tin được hiểu theo nhiều nghĩa, tuỳ theo các hướng tiếp cận khác nhau. Có thể tiếp cận khái niệm thông tin như một sản phẩm, đồng thời là nguồn lực phát triển xã hội.
Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Như vậy, thông tin chính là sự hiểu biết của con người về thuộc tính, bản chất của các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội và các quy luật vận động và phát triển của tự nhiên và xã hội. Thông tin được thể hiện dưới các dạng như ngôn ngữ nói, chữ viết, hình ảnh, số liệu, các biểu đồ.và được lưu giữa trên các dạng vật chất khác nhau.
Nguồn lực thông tin là một khái niệm được hiểu biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận. Thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” là một khái niệm trọng tâm trong lĩnh vực thông tin và thư viện, tương đương với thuật ngữ “Information resource” trong tiếng Anh. cho rằng : “Nguồn lực thông tin là một phần của sản phẩm trí tuệ, sản phẩm của lao động khoa học, kiến thức, sáng tạo của con 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người, phản ánh những thông tin được kiểm soát, được ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó. Nguồn lực thông tin phải được cấu trúc, tổ chức lại giúp con người có thể tìm và khai thác được chúng theo nhiều cách khác nhau” [38, tr.
khẳng định NLTT là một dạng sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc, được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng [39]. Nguyễn Hữu Hùng trong một loạt các bài viết của mình đều cho rằng bản chất của NLTT là phần thông tin trong xã hội được tổ chức lại có cấu trúc mà con người có thể tổ chức, khai thác, trao đổi, và có ý nghĩa trong xã hội. Nguồn lực thông tin bao hàm cả lượng thông tin được sở hữu bởi tổ chức và khả năng với tới các nguồn tin khác nhau, có nghĩa là ngoài lượng thông tin thuộc sự sở hữu của tổ chức và lượng thông tin mà tổ chức có thể với tới được nhằm phục vụ cho mục đích của tổ chức đó thì đều được gọi là NLTT của tổ chức. Trong bài giảng “Thông tin học nâng cao” hệ cao học TT-TV, PGS.
Trần Thị Quý cho rằng “Nguồn lực thông tin chính là các dạng vật chất khác nhau lưu giữ các thông tin/tri thức của con người được tổ chức, sắp xếp lại có cấu trúc, có ý nghĩa, có nội dung mà con người có thể khai thác và sử dụng được chúng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau và do một tổ chức hoặc cá nhân nào đó kiểm soát chúng nhằm phục vụ cho lợi ích của cộng đồng”. Lê Văn Viết “Nguồn lực thông tin là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Theo đó, sự hình thành, nguyên tắc xây dựng, chức năng của vốn tài liệu và của NLTT nhìn chung là đồng nhất” [33, tr. Nguyễn Viết Nghĩa trong tập bài giảng “Phát triển và quản trị vốn tài liệu” cho rằng: “Nguồn lực thông tin là tập hợp có tổ chức các loại hình 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài liệu dưới mọi định dạng khác nhau của một cơ quan thông tin, thư viện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin”.
Như vậy, mặc dù có những cách biểu đạt khác nhau, các tác giả đều coi NLTT như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích luỹ được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để tái sử dụng trong các hoạt động thực tiễn xã hội. Về cơ bản, các khái niệm trên đều cho rằng NLTT là sản phẩm trí tuệ của con người tạo ra, được tổ chức lại để có thể kiểm soát, khai thác và chia sẻ được, do đó có ý nghĩa nhất định đối với hoạt động thực tiễn của con người. Luận văn tiếp cận khái niệm NLTT với ý nghĩa như là một dạng sản phẩm trí tuệ của con người thông qua quá trình lao động sáng tạo, được tổ chức, kiểm soát và có giá trị trong hoạt động thực tiễn của con người. Theo nghĩa đó, NLTT có thể được phân chia theo nhiều dấu hiệu khác nhau trong đó có dấu hiệu về mặt nội dung (phân chia theo các chuyên ngành khoa học như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội …) và theo cách thức truyền tải thông tin (theo dấu hiệu của hình thức tài liệu: Vật mang tin truyền thống và vật mang tin hiện đại).
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả tiếp cận NLTT theo cách thức truyền tải thông tin bao gồm NLTT truyền thống (sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án….) và NLTT điện tử (Cơ sở dữ liệu, tài liệu số….) mà thư viện sở hữu và có thể tổ chức, kiểm soát và tiếp cận được. Hiểu về các đặc trưng của NLTT giúp chúng ta nhận thức được vai trò của nguồn lực thông tin trong xã hội là đối tượng cần được quản trị, về mặt khoa học là đối tượng cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Các đặc trƣng của nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin có các tính chất nổi bật: tính vật lý, tính cấu trúc, tính truy cập, tính chia sẻ và tính giá trị. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tính vật lý: Thông tin được con người truyền đi và ghi lại để lưu trữ và sử dụng đều dưới các dạng vật chất nhất định như giấy, nhựa… nhờ hệ thống tín hiệu biểu tượng.
Việc lưu trữ thông tin dưới dạng truyền thống hay dạng điện tử như các loại băng đĩa, hay đĩa từ, đĩa CD, máy tính… đều do thông tin có tính chất vật lý. Như vậy thông tin là vô hình nhưng lại được tiếp nhận qua nội dung của nó và phải chuyển hóa dưới dạng hữu hình. Tính vật lý giúp con người lưu trữ và sử dụng thông tin để cải tạo và phát triển xã hội, tăng giá trị của thông tin trong cuộc sống. - Tính cấu trúc: Khi thông tin được lưu trữ và sử dụng thì cần phải xử lý theo những thể thức và tiêu chuẩn nhất quán.
Cấu trúc của thông tin thường được sắp xếp, trình bày theo trật tự nhất định, phù hợp với mục đích sử dụng nhằm bảo quản an toàn và giúp người sử dụng truy cập thông tin. Thông tin thường được tổ chức và nhìn nhận theo khía cạnh dữ liệu và tổ chức. - Tính truy cập: Thông tin chỉ có giá trị khi chúng được truy cập và sử dụng, vì thế tính truy cập là đặc trưng quan trọng của NLTT. Người dùng tin có thể tìm kiếm thông tin bằng nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào NLTT truyền thống hay NLTT điện tử.
Người dùng tin có thể tìm kiếm thông tin qua nhiều điểm truy cập như tên tài liệu, tên tác giả…Khi tìm trong môi trường điện tử, có thể truy cập qua các toán tử tìm tin trên máy tính từ đơn giản đến phức tạp. - Tính chia sẻ: Chia sẻ NLTT không làm thông tin mất đi giá trị mà còn làm tăng thêm giá trị của nó. Thông tin càng được sử dụng thì càng sản sinh ra nguồn thông tin mới. Khi liên kết và chia sẻ các nguồn thông tin với nhau sẽ tạo nên giá trị thông tin cao hơn.
Muốn chia sẻ tốt NLTT cần có các giải pháp và sự đồng bộ về cơ sở vật chất kỹ thuật, tính pháp lý và sự thỏa thuận giữa các bên tham gia việc chia sẻ. - Tính giá trị: Giá trị của thông tin thường mang tính vô hình và khó xác định. Giá trị của thông tin được đánh giá qua quá trình con người sử dụng nó 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong các hoạt động. Trong thời đại bùng nổ thông tin, thì NDT ngày càng khó xác định những nguồn tin chính thống và phải chọn lọc thông tin một cách thận trọng khi sử dụng.
Thông tin luôn có tính tích cực và tiêu cực. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin, khi các thông tin tăng lên một cách nhanh chóng, khó kiểm soát thì vấn đề nâng cao chất lượng của thông tin đòi hỏi các cơ quan thông tin luôn phải chọn lọc và xử lý thông tin để phục vụ NDT. Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin Phát triển là một khái niệm rộng được hiểu theo nhiều quan điểm và góc nhìn khác nhau. Theo quan điểm triết học, phát triển là thuộc tính phổ biến của vật chất.
Theo đó, mọi sự vật, hiện tượng từ khi sinh ra và mất đi không tồn tại ở một trạng thái bất biến mà trải qua một loạt trạng thái khác nhau. Phạm trù “phát triển” thể hiện tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy. Không một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ biến đổi mà luôn luôn chuyển trạng thái mới. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới.
Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong.nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lâp” [31, tr.