CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỀN NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 1.1 Các khái niệm cơ bản: 1. Công ty chứng khoán a. Khái niệm về công ty chứng khoán: Trong Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC có định nghĩa rõ thế nào là công ty chứng khoán. Theo đó, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản công ty chứng khoán là một tổ chức hoạt động có tư cách pháp nhân, có giấy phép hoạt động kinh doanh.
Giấy phép kinh doanh chứng khoán được cấp bởi Ủy ban chứng khoán nhà nước. Hoạt động kinh doanh chứng có thể thể là một số hoặc toàn bộ những hoạt động sau: tự doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán. Công ty chứng khoán được hoạt động dưới sự kiểm soát của Luật chứng khoán và một số quy định khác của pháp luật. Công ty chứng khoán được hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty TNHH đều được.
Đặc điểm công ty chứng khoán - Công ty chứng khoán được xem là một tổ chức tài chính trung gian. Tổ chức tài chính là khái niệm để chỉ những tổ chức thực hiện chức năng dẫn nguồn vốn từ người có tới người cần. Chức năng dẫn vốn này không thực hiện trực tiếp mà thông qua người thứ 3 đó là các tổ chức tài chính. Công ty chứng khoán sẽ có nhiệm vụ thu xếp các giao dịch trên cho khách hàng.
Tất nhiên các công ty này sẽ có một phần hoa hồng trong mỗi lần giao dịch giữa các bên. - Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh phải có điều kiện. Để tiến hành kinh doanh, công ty chứng khoán phải là một thành viên của Sở giao dịch và tất nhiên khi 8 tiến hành kinh doanh công ty đó phải hội tụ đủ hết những điều kiện, quy định và điều kiện tiên quyết là phải đăng ký kinh doanh chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán: Một số quy định để một công ty chứng khoán được cấp phép: phương án kinh doanh của công ty phải phù hợp với từng mục tiêu phát triển ngành chứng khoán; về cơ sở vật chất thì công ty phải trang bị hết những trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán; mức vốn pháp lý tối thiểu theo quy định của từng ngành nghề kinh doanh; ban lãnh đạo của công ty chứng khoán và những nhân viên kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề. Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh hoạt động bị kiểm soát.
Tất cả các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán đều bị kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan chức năng có thẩm quyền và Hiệp hội chứng khoán sở tại. Các công ty chứng khoán hiện nay đều lấy hoạt động tự doanh là nòng cốt và quan trọng. Tuy nhiên do hoạt động tự doanh và môi giới thường xuyên xảy ra xung đột lợi ích nên nhà nước quy định các công ty phải thực hiện những chức năng đó ở những bộ phận riêng biệt. Tự doanh chứng khoán được hiểu là một công ty chứng khoán bất kỳ tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán vẫn được kiểm soát bởi các cơ chế của Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC. Điều kiện về nhân sự: Ngành chứng khoán: Căn cứ Khoản 5 Điều 74 Luật Chứng khoán 2019 (Có hiệu lực ngày 01/01/2021) quy định điều kiện về nhân sự của công ty chứng khoán như sau:Có Tổng giám đốc (Giám đốc), tối thiểu 03 nhân viên có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đề nghị cấp phép và tối thiểu 01 nhân viên kiểm soát tuân thủ. Tổng giám đốc (Giám đốc) phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây: 9 Không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án phạt tù hoặc bị cấm hành nghề chứng khoán theo quy định của pháp luật; Có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm làm việc tại bộ phận nghiệp vụ của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm hoặc tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các doanh nghiệp khác; Có chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ; Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán trong thời hạn 06 tháng gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ. Trường hợp có Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) phụ trách nghiệp vụ thì phải đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và d khoản này và có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp với nghiệp vụ phụ trách.
Vai trò công ty chứng khoán Đối với doanh nghiệp: Chúng ta vẫn thường nghe đến cụm từ IPO hay Initial Public Offering được hiểu là doanh nghiệp phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp là một hoạt động nhằm huy động vốn, tất cả các hoạt động này đều được thực hiện qua một bên trung gian đó chính là các công ty chứng khoán. Trong các thương vụ phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp, công ty chứng khoán đóng vai trò tư vấn, bảo lãnh phát hành nhằm đảm bảo các giao dịch mua bán diễn ra thuận lợi. Đối với cá nhân là những nhà đầu tư: Một trong những bước đầu tiên để các nhà đầu tư tiến hành giao dịch trên sàn chứng khoán chính là phải có tài khoản giao dịch 10 chứng khoán.
Những tài ẩn này sẽ được mở tại các công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán cũng có vai trò cung cấp các bản đánh giá, báo cáo tài chính về tình hình “sức khỏe” của doanh nghiệp để từ đó cho các nhà đầu tư một cái nhìn tổng quan trước các quyết định đầu tư. Đối với thị trường chứng khoán: Công ty chứng khoán là đơn vị trung gian nhưng cũng là đơn vị và thành phần không thể thiếu để cấu thành nên thị trường chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, vai trò của các công ty chứng khoán đối với doanh nghiệp IPO chính là phát hành và định giá cổ phiếu tại lần đầu tiên chào bán.
Trên thị trường thứ cấp, vai trò của công ty chứng khoán là điều tiết thị trường thông qua các hoạt động tự doanh bao gồm cả việc tăng thu nhập cho chính công ty họ bằng cách tạo giá trị thanh khoản, điều tiết nền giá cổ phiếu. Đối với cơ quan quản lý: Các cơ quan quản lý phải có chức năng quan sát thị trường chứng khoán và thực hiện những điều chỉnh hợp lý tuân theo các quy định hiện hành của Luật chứng khoán và những cơ quan Nhà nước. Các hoạt động này của cơ quan quản lý một phần dựa vào những thông tin về thị trường chứng khoán được cung cấp bởi những công ty chứng khoán. Các thông tin được công ty chứng khoán cung cấp có thể là thông tin về các cổ phiếu, thông tin giao dịch, cổ tức, dữ liệu về ngành và doanh nghiệp.
Công ty chứng khoán sẽ phải kết hợp với các cơ quan quản lý để hạn chế hoặc ngăn chặn các hành vi sai trái trên thị trường chứng khoán do những cá nhân hoặc tổ chức có thể gây ra. Công ty chứng khoán có thể được xem là một chế tài quan trọng trên thị trường chứng khoán. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán Hoạt động môi giới chứng khoán: Đây là một trong những hoạt động cơ bản nhất của một CTCK. Hoạt động này thường chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu 11 doạnh thu của các CTCK.
Các CTCK với vai trò là một trung gian sẽ nhận lệnh cuat khách hàng, thông qua hệ thống công nghệ thông tin và nhân viên môi giới thực hiện, qua đó sẽ nhận được 1 khoản hoa hồng trên giá trị giao dịch của khách hàng. Mọi quyết định mua bán chứng khoán đều phải tới từ khách hàng, nhân viên môi giới có trách nhiệm thực hiện đúng chuẩn yêu cầu của khách hàng. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán: Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán đ ược thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC.
Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán đ ược thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá. Từ việc thực hiện hoạt động tự doanh, CTCK thu lợi cho mình thông qua hành vi mua – bán chứng khoán dưới sự kiể soát của pháp luật nhà nước. Hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán gớp phần bình ổn thị trường.
để thực hiện hoạt động này, vốn pháp định theo Luật doanh nghiệp 2006 k là 100 tỷ đông. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán: Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh của các công ty chứng khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của công ty chứng khoán. Như vậy nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chức năng bảo lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng 12 khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
Trên thị trường chứng khoán, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có công ty chứng khoán mà còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thông thường việc công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phân phối chứng khoán cho các công ty chứng khoán tự doanh hoặc các thành viên khác.