CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Các nhà sản xuất lớn trên thế giới, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia đã thay đổi chiến lược quản lý sản xuất, họ chỉ nắm giữ các hoạt động chính, quan trọng như nghiên cứu và phát triển (R&D), lắp ráp tại chỗ hay xúc tiến thương mại, còn các phần gia công hay cung cấp cục bộ, các công đoạn sản xuất - những phần công việc trước đây vẫn nằm trong dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh sẽ được giao cho các công ty vệ tinh. Ưu điển của chuyên môn hoá chứng tỏ việc sản xuất trọn gói không phải là cách thức hiệu quả nhất cho quá trình sản xuất. Việc phân chia này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh về giá cho sản phẩm của họ.
Hiệu quả ở đây được đánh giá trên các tiêu chí: chi phí thấp (chi phí đầu vào, chi phí thiết kế, chi phí vận chuyển, chi phí quản lý …), tiết kiệm thời gian, chất lượng ổn định. Vậy là thay vì sản xuất sản phẩm với tất cả các bộ phận chi tiết, các công đoạn sản phẩm sẽ được chuyên môn hoá thành từng phần và mỗi ngành, đơn vị chỉ chịu trách nhiệm một phần của sản phẩm hoặc một phần của công đoạn sản xuất ra sản phẩm đó. Đây là cơ sở ban đầu hình thành nên công nghiệp phụ trợ. Khái niệm và cơ cấu ngành công nghiệp phụ trợ.
Khái niệm công nghiệp phụ trợ. Công nghiệp phụ trợ là một khái niệm xuất phát từ Nhật Bản, được sử dụng trong thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản trước khi được sử dụng một cách chính thức. Cùng với việc chuyển dịch chuỗi giá trị 5 sang các nước châu Á, với sức ảnh hưởng của nguồn đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản, công nghiệp phụ trợ được các nước đang phát triển tiếp nhận trong xây dựng và điều chỉnh các chiến lược về công nghiệp. Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước Đông Á.
Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng như trên thực tế, nhìn chung vẫn chưa hình thành các chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ trợ. Có hai cách tiếp cận đối với khái niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sản xuất đầu vào (manufactured inputs). Hàng hóa, sản phẩm sau cùng được tạo ra từ những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào.
Công nghiệp phụ trợ chính là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm: - Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods). - Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods). Việc phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển hóa của những hàng hóa này vào trong sản phẩm cuối cùng. Như trong sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa trung gian, trong khi máy móc, thiết bị sản xuất các linh kiện ấy được xem như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất.
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ. Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh. Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản phẩm. Khái niệm công nghiệp phụ 6 trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt.
Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải được hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố phụ trợ. Do các quan niệm khác nhau về công nghiệp phụ trợ, việc hiểu và vận dụng đúng khái niệm này trong các chính sách công nghiệp thường gặp nhiều khó khăn. Xem công nghiệp phụ trợ là những ngành sử dụng công nghệ thấp là một quan niệm sai lệch thường thấy ở các nước đang phát triển, dẫn đến không có các chính sách và đầu tư thỏa đáng. Tuy nhiên, xem công nghiệp phụ trợ theo nghĩa thâm dụng vốn và sử dụng lao động kỹ thuật cấp cao không mấy ý nghĩa đối với việc hình thành các chính sách và chiến lược phát triển công nghiệp do điều kiện, năng lực hạn chế của các nước đang phát triển.
Trên thực tế, khái niệm công nghiệp phụ trợ được hiểu và tiếp cận một cách “thực dụng”, nghĩa là tùy mục tiêu, tùy chiến lược mà sử dụng hay tiếp nhận. Điều này thể hiện rõ qua ảnh hưởng của Nhật Bản đến chính sách công nghiệp của các nước Đông Nam Á từ hai thập niên trước cho đến nay. Từ sự khái quát các khái niệm về công nghiệp phụ trợ, dựa trên các phạm vi hoạt động, có 3 khái niệm công nghiệp phụ trợ: 1. Công nghiệp phụ trợ là những ngành cung cấp linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra những linh kiện, phụ tùng đó.
Công nghiệp phụ trợ là những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện, công cụ để sản xuất phụ tùng, linh kiện này và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm. Công nghiệp phụ trợ là những ngành công nghiệp cung cấp toàn bộ hàng hoá đầu vào (nguyên liệu thép, nhựa, hoá chất …), hàng hoá tư bản (máy móc, công cụ) và hàng hoá trung gian (linh kiện, phụ tùng) Theo quan điểm của tác giả, khái niệm công nghiệp phụ trợ thứ 3 là đầy đủ và chính xác nhất. Khái niệm về công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam đã được đề cập đến trong “Dự thảo Quy hoạch tổng thế phát triển công nghiệp phụ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020”. Nếu được thông qua thì đây sẽ là khái niệm có tính pháp lý đầu tiên về công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam.
Bản dự thảo đưa ra khái niệm về hệ thống công nghịêp hỗ trợ: “là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng. cho khâu lắp ráp cuối cùng”. Sản phẩm cuối cùng Lắp ráp Lắp ráp chưa hoàn chỉnh P P h Hàng hoá trung gian Dịch vụ sản xuất h ạ Phụ tùng Hậu cần ạ m Linh kiện Kho bãi m P v Phân phối v h i Bảo hiểm i ạ 1 Hàng hoá tư bản 2 m Công cụ v i Máy móc 3 Nguyên liệu Thép, hoá chất Sơ đồ 1.1: Phạm vi các ngành công nghiệp phụ trợ 8 NHÀ LẮP RÁP NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Công nghệ - thiết bị Ép Cán Đúc Dập Xử lý nhiệt Linh phụ kiện Cao su Nhựa Điện Ốc vít Lò xo Vật liệu Nguyên liệu thô Sơ đồ 1.2: Kết cấu ngành công nghiệp hỗ trợ Ở Việt Nam, quan niệm về công nghiệp phụ trợ xuất hiện trong các chương trình hợp tác kinh tế với Nhật Bản. Khái niệm này được du nhập vào nước ta thông qua vai trò của Diễn đàn kinh tế Việt Nam (VDF) và ảnh hưởng của các luồng đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản, đặc biệt gắn với việc chọn lựa địa điểm đặt các nhà máy sản xuất của những tập đoàn đa quốc gia.
Thuật ngữ công nghiệp phụ trợ được sử dụng chính thức từ năm 2004, chủ yếu trong các chỉ thị, công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Cơ cấu ngành công nghiệp phụ trợ. Tất cả các quan niệm trên đều xét công nghiệp phụ trợ dưới dạng một ngành, một hệ thống các cơ sở sản xuất, hoặc những sản phẩm công nghiệp cụ thể giữ vai trò hỗ trợ cho các ngành sản xuất chính phát triển, chưa chỉ rõ được bản chất, vai trò của nó trong quá trình tái sản xuất xã hội và trong sự 9 phát triển của nền kinh tế quốc gia. Do đó công nghiệp phụ trợ với tư cách là một bộ phận cấu thành của nền sản xuất xã hội phải được hiểu là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, là toàn bộ các cơ sở sản xuất ra các sản phẩm giữ vai trò tạo lập các tiền đề vật chất, kỹ thuật cần thiết phụ trợ cho các ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc gia phát triển.
Xét về vai trò đối với sự phát triển của nền kinh tế thì công nghiệp phụ trợ là chất xúc tác để thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng nhanh chóng, đồng thời nó là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường đầu tư để thu hút kích thích các nguồn vốn, công nghệ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia. Lắp ráp Tiền lắp ráp Linh kiện Công nghiệp Gia công phụ trợ Máy móc Nguyên liệu và nguyên liệu thô Sơ đồ 1.3: Công nghiệp phụ trợ theo nghĩa rộng 10 Công nghiệp phụ trợ được ví như "chân núi", tạo phần cứng để hình thành nên "thân núi" và "đỉnh núi" chính là ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm công nghiệp hoặc tiêu dùng (sơ đồ 1. Như vậy công nghiệp phụ trợ không phải là một ngành cụ thể mà nó bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung gian cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp. Dựa trên mức độ phức tạp của 3 công đoạn sản xuất chính từ chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng, linh kiện tới lắp ráp hoàn chỉnh thì công nghiệp phụ trợ theo thứ tự này sẽ đứng hàng thứ hai.
Do đó công nghiệp phụ trợ được coi là một cơ sở công nghiệp hoạt động với nhiều chức năng để phục vụ một số lượng lớn các ngành lắp ráp chứ không nên coi nó đơn giản chỉ là ngành thu thập ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không liên quan.