Luận văn ThS: Hệ thống bài tập phát triển NL tạo lập văn bản miêu tả lớp 6

Luận văn phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả cho học sinh lớp 6. Nghiên cứu hệ thống bài tập hiệu quả, nâng cao kỹ năng viết văn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử vấn đề

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Bố cục của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM PTNL TLVB MIÊU TẢ CHO HS LỚP 6

1.1. Văn miêu tả - khái niệm và một số đặc trưng cơ bản

1.2. Năng lực tạo lập văn bản miêu tả

1.3. Bài tập và hệ thống bài tập

1.4. Đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của HS lớp 6

1.5. Cơ sở thực tiễn

1.5.1. Nội dung chương trình SGK, tài liệu tham khảo,. về văn miêu tả lớp 6

1.5.2. Thực trạng dạy - học văn miêu tả ở lớp 6

1.6. Kết luận chương 1

2. Chương 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6

2.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả

2.1.1. Phù hợp với mục tiêu của môn học

2.1.2. Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng và tính phong phú

2.1.3. Phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn

2.1.4. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

2.2. Giới thiệu mô hình hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả

2.3. Hệ thống bài tập nhằm PTNL quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả

2.3.1. Hệ thống bài tập PTNL quan sát cho HS khi làm văn miêu tả

2.3.2. Hệ thống bài tập PTNL liên tưởng, tưởng tượng cho HS khi làm văn miêu tả

2.3.3. Hệ thống bài tập PTNL so sánh và nhận xét trong văn miêu tả

2.4. Hệ thống bài tập nhằm PTNL tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý cho bài văn miêu tả

2.4.1. Hệ thống bài tập PTNL phân tích, nhân diện, tìm hiểu đề

2.4.2. Hệ thống bài tập PTNL tìm ý

2.4.3. Hệ thống bài tập PTNL lập dàn ý

2.5. Hệ thống bài tập nhằm PTNL diễn đạt trong bài văn miêu tả

2.5.1. Hệ thống bài tập nhằm PTNL viết mở đoạn

2.5.2. Hệ thống bài tập nhằm PTNL viết thân đoạn

2.5.3. Hệ thống bài tập nhằm PTNL viết kết đoạn

2.5.4. Hệ thống bài tập PTNL liên kết đoạn trong bài văn miêu tả

2.6. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa lỗi trong bài văn miêu tả

2.6.1. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa chữa lỗi về bố cục

2.6.2. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa chữa lỗi về nội dung

2.6.3. Hệ thống bài tập nhằm PTNL phát hiện và sửa chữa lỗi về diễn đạt

2.7. Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập nhằm PTNL TLVB miêu tả

2.7.1. Vận dụng hệ thống bài tập trong dạy - học văn miêu tả ở phân môn TLV

2.7.2. Vận dụng hệ thống bài tập nhằm PTNL TLVB miêu tả vào các phân môn khác của môn Ngữ văn

2.8. Kết luận chương 2

3. Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3. Phương pháp thực nghiệm

3.4. Nội dung thực nghiệm

3.4.1. Thực nghiệm thăm dò

3.4.2. Thực nghiệm dạy học (kiểm tra đánh giá)

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.5.1. Kết quả thực nghiệm thăm dò

3.5.2. Kết quả thực nghiệm dạy học

3.6. Kết luận chung về thực nghiệm

3.6.1. Về thực nghiệm thăm dò

3.6.2. Về thực nghiệm dạy học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phát Triển Năng Lực Viết Văn Miêu Tả Lớp 6 Hiệu Quả

Văn miêu tả đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh (HS) lớp 6 hình dung thế giới xung quanh một cách sinh động. Kỹ năng này không chỉ hỗ trợ các em trong phân môn Làm văn mà còn hữu ích trong cuộc sống hàng ngày, khi cần diễn đạt chính xác và gợi cảm về sự vật, hiện tượng. Việc xây dựng hệ thống bài tập hiệu quả là chìa khóa để phát triển năng lực viết văn miêu tả cho các em. Nghị quyết 29 của Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, đòi hỏi sự thay đổi trong cách tiếp cận và xây dựng nội dung giảng dạy, đặc biệt là ở phân môn Làm văn. Thực tế cho thấy, nhiều HS còn gặp khó khăn khi viết văn miêu tả do thiếu vốn từ, kỹ năng quan sát, và khả năng diễn đạt. Giáo viên (GV) cũng lúng túng trong việc hướng dẫn và cung cấp tài liệu bồi dưỡng văn miêu tả lớp 6 phù hợp. Do đó, cần thiết phải có một hệ thống bài tập khoa học, bám sát chương trình, và phát huy tính sáng tạo của HS để nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả. Theo tác giả Trần Thị Hương Giang trong luận văn thạc sĩ của mình, “Xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản miêu tả cho học sinh lớp 6” là một nhiệm vụ cấp thiết để nâng cao hiệu quả dạy - học văn miêu tả. Cần xây dựng hệ thống bài tập để các em PTNL TLVB còn tương đối ít và chưa thực sự đạt hiệu quả cao.

1.1. Tầm Quan Trọng của Văn Miêu Tả Trong Chương Trình Lớp 6

Văn miêu tả không chỉ là một thể loại văn học mà còn là một công cụ quan trọng để HS lớp 6 rèn luyện kỹ năng viết văn cho học sinh lớp 6. Thông qua việc miêu tả, các em học cách quan sát, phân tích, và cảm nhận thế giới xung quanh, từ đó phát triển khả năng tư duy và diễn đạt. Kỹ năng này còn giúp các em cải thiện khả năng giao tiếp, trình bày ý tưởng một cách rõ ràng, mạch lạc, và hấp dẫn. Chương trình Ngữ văn lớp 6 chú trọng việc giới thiệu các khái niệm cơ bản về văn miêu tả, cũng như các yếu tố cần thiết để tạo nên một bài văn miêu tả hay. Việc nắm vững những kiến thức này là nền tảng để HS phát triển ý văn miêu tả lớp 6 một cách hiệu quả.

1.2. Thực Trạng Dạy và Học Văn Miêu Tả Vẫn Còn Nhiều Thách Thức

Mặc dù văn miêu tả đóng vai trò quan trọng, thực tế dạy và học thể loại này vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều HS gặp khó khăn trong việc quan sát, lựa chọn chi tiết, và sử dụng ngôn ngữ một cách sinh động. Các em thường viết văn một cách khô khan, thiếu cảm xúc, và mắc nhiều lỗi về diễn đạt. GV cũng đối mặt với nhiều thách thức trong việc thiết kế bài giảng, lựa chọn phương pháp dạy văn miêu tả lớp 6 phù hợp, và đánh giá năng lực viết văn của HS. Theo khảo sát của tác giả Trần Thị Hương Giang, nhiều GV còn lúng túng trong việc hướng dẫn HS tạo lập văn bản miêu tả, và hệ thống bài tập hiện có chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển năng lực của HS. Điều đó dẫn đến các em học sinh không có hứng thú trong môn học này.

II. Nhận Diện Các Vấn Đề Hạn Chế Năng Lực Viết Miêu Tả Của HS Lớp 6

Để xây dựng hệ thống bài tập hiệu quả, cần xác định rõ những khó khăn và hạn chế mà HS lớp 6 thường gặp phải khi viết văn miêu tả. Các vấn đề này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm: Thiếu kỹ năng quan sát: HS không biết cách quan sát đối tượng một cách tỉ mỉ, toàn diện, và có hệ thống. Vốn từ ngữ nghèo nàn: HS không có đủ vốn từ để diễn đạt chính xác và sinh động về sự vật, hiện tượng. Khả năng diễn đạt hạn chế: HS không biết cách sử dụng các biện pháp tu từ, liên kết câu, và xây dựng đoạn văn mạch lạc. Thiếu cảm xúc và trải nghiệm: HS không có đủ cảm xúc và trải nghiệm thực tế để viết văn một cách chân thực và sâu sắc. Áp lực từ văn mẫu: HS có xu hướng sao chép văn mẫu, thay vì tự mình sáng tạo và diễn đạt theo cách riêng. Việc nhận diện các vấn đề này là cơ sở để thiết kế các bài tập phù hợp, giúp HS khắc phục những hạn chế và phát triển năng lực viết văn miêu tả một cách toàn diện. Theo tác giả Trần Thị Hương Giang một trong những nhược điểm của HS khi làm văn miêu tả là: “Miêu tả hời hợt, chung chung, không có một sắc thái riêng biệt nào của đối tượng. Thực tế các em đã quá quen với việc thực hành viết văn dạng văn bản mẫu và tái tạo văn bản tương tự mẫu ở bậc Tiểu học.

2.1. Phân Tích Chi Tiết Các Lỗi Thường Gặp Trong Văn Miêu Tả Lớp 6

Các lỗi thường gặp trong văn miêu tả của HS lớp 6 có thể được phân loại như sau: Lỗi về bố cục: Bài văn thiếu mở bài, kết bài, hoặc các phần không được sắp xếp một cách hợp lý. Lỗi về nội dung: Nội dung miêu tả sơ sài, chung chung, thiếu chi tiết, hoặc không đúng trọng tâm. Lỗi về diễn đạt: Sử dụng từ ngữ không chính xác, câu văn lủng củng, thiếu liên kết, hoặc không sử dụng các biện pháp tu từ. Lỗi về chính tả: Mắc các lỗi chính tả cơ bản, ảnh hưởng đến khả năng truyền đạt thông tin. Việc phân tích chi tiết các lỗi này giúp GV có cái nhìn tổng quan về năng lực viết văn của HS, từ đó đưa ra các biện pháp hỗ trợ phù hợp. Do thiếu kiến thức về liên kết câu cũng như không hiểu rõ về mối quan hệ giữa các câu trong văn bản nên HS thường viết những câu sử dụng phương tiện liên kết không phù hợp, ví dụ: “Bạn Hoa lớp em rất xinh, nhưng bạn ấy lại học giỏi nữa.”.

2.2. Ảnh Hưởng của Văn Mẫu và Thói Quen Sao Chép Đến Sáng Tạo

Việc sử dụng văn mẫu là một trong những nguyên nhân khiến HS mất đi khả năng sáng tạo và diễn đạt theo cách riêng. Khi HS quá phụ thuộc vào văn mẫu, các em sẽ không có cơ hội để rèn luyện kỹ năng quan sát, suy nghĩ, và cảm nhận. Điều này dẫn đến việc các bài văn trở nên khô khan, thiếu cảm xúc, và không thể hiện được cá tính của người viết. Cần khuyến khích HS tự mình khám phá, trải nghiệm, và diễn đạt theo cách riêng, thay vì chỉ sao chép lại những gì đã có. Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là do HS không biết cách quan sát, không được quan sát đối tượng cụ thể, kỹ lưỡng cho nên không lựa chọn được những chi tiết đặc sắc, nổi bật, riêng biệt của đối tượng miêu tả. Vì thế, để HS biết miêu tả, để bài viết của HS có những chi tiết cụ thể, sinh động về đối tượng, cần phải có những bài tập nhằm phát triển năng lực quan sát cho HS, nhằm giúp các em biết cách sử dụng giác quan, lựa chọn trình tự quan sát hợp lý, biết cách thu nhận những nhận xét, so sánh, liên tưởng. làm tư liệu cho bài văn của mình.

III. Cách Phát Triển Năng Lực Viết Văn Miêu Tả Lớp 6 Bài Tập Thiết Thực

Để khắc phục những hạn chế và phát triển năng lực viết văn miêu tả cho học sinh lớp 6, cần xây dựng một hệ thống bài tập đa dạng, phong phú, và bám sát chương trình. Các bài tập này cần tập trung vào việc rèn luyện các kỹ năng cơ bản, như: Quan sát, lựa chọn chi tiết, sử dụng từ ngữ, xây dựng câu văn, và viết đoạn văn. Bên cạnh đó, cần khuyến khích HS sáng tạo, diễn đạt theo cách riêng, và thể hiện cảm xúc chân thật trong bài văn. Hệ thống bài tập cần được thiết kế theo trình độ tăng dần, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, để HS có thể tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả. Theo luận văn của Trần Thị Hương Giang, hệ thống bài tập cần bao gồm các bài tập phát triển năng lực quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, nhận xét, tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt, phát hiện và sửa lỗi. Cần phải làm rõ yêu cầu của việc dùng từ trong bài văn miêu tả phải bao gồm hai mức độ: Dùng từ đúng và dung từ hay.

3.1. Rèn Luyện Kỹ Năng Quan Sát Chìa Khóa Để Miêu Tả Sinh Động

Kỹ năng quan sát là nền tảng của văn miêu tả. Để giúp HS rèn luyện kỹ năng này, cần thiết kế các bài tập yêu cầu các em quan sát đối tượng một cách tỉ mỉ, sử dụng tất cả các giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác), và ghi lại những chi tiết quan trọng. Các bài tập có thể bao gồm: Quan sát một đồ vật quen thuộc và mô tả hình dáng, màu sắc, kích thước, chất liệu của nó. Quan sát một cảnh thiên nhiên và mô tả âm thanh, mùi hương, và cảm giác mà nó mang lại. Quan sát một người và mô tả ngoại hình, cử chỉ, hành động, và tính cách của người đó. Theo tác giả Nguyễn Trí, "Điều kiện cơ bản và cũng là phương pháp cơ bản để làm tốt bài miêu tả là phải biết quan sát và chọn học những chi tiết quan sát được. Mọi kết quả quan sát được thể hiện trong bài miêu tả." Ngoài ra, do được tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng miêu tả cô cùng phong phú, các em sẽ có hứng thú học văn miêu tả hơn, say mê học văn miêu tả hơn.

3.2. Phát Triển Vốn Từ Ngữ Công Cụ Để Diễn Đạt Chính Xác và Gợi Cảm

Vốn từ ngữ là công cụ quan trọng để diễn đạt chính xác và gợi cảm về sự vật, hiện tượng. Để giúp HS phát triển vốn từ ngữ, cần thiết kế các bài tập yêu cầu các em: Tìm các từ đồng nghĩa, trái nghĩa, và liên quan đến một chủ đề nhất định. Sử dụng các từ ngữ gợi hình, gợi cảm để miêu tả sự vật, hiện tượng. Tìm hiểu ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, và ca dao liên quan đến miêu tả. Đọc và phân tích các đoạn văn miêu tả hay để học hỏi cách sử dụng từ ngữ của các nhà văn, nhà thơ. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Đào Thản khẳng định: “Hơn bất cứ thứ chất liệu và phương tiện nghệ thuật nào, ngôn ngữ cho phép nhà nghệ sĩ sử dụng nó để thể hiện vẻ đẹp sống động, lung linh, muôn màu, muôn vẻ của thế giới tự nhiên, đời sống xã hội và nội tâm con người tùy theo chỗ đứng, cách nhìn, cách cảm khác nhau với đủ mọi quy mô, cung bậc”. Chính vì vậy GV cần giúp học sinh lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng giao tiếp.

IV. Phương Pháp Dạy Văn Miêu Tả Lớp 6 Khơi Gợi Cảm Xúc Kích Thích Sáng Tạo

Phương pháp dạy văn miêu tả cần tập trung vào việc khơi gợi cảm xúc, kích thích sáng tạo, và tạo cơ hội cho HS được thể hiện cá tính riêng. GV cần tạo ra một môi trường học tập thoải mái, thân thiện, và khuyến khích HS tự do bày tỏ ý kiến. Các phương pháp dạy học tích cực, như: Thảo luận nhóm, đóng vai, trò chơi, và dự án, có thể được sử dụng để tăng tính tương tác và hứng thú cho HS. Bên cạnh đó, GV cần cung cấp cho HS những phản hồi chi tiết và cụ thể về bài viết của các em, giúp các em nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, và có động lực để cải thiện. Theo kinh nghiệm của nhiều GV, việc sử dụng hình ảnh, âm thanh, và video trong quá trình dạy học có thể giúp HS hình dung rõ hơn về đối tượng miêu tả, và kích thích khả năng sáng tạo của các em. GV cần tạo ra một giờ học đảm bảo định hướng tích hợp, vừa không khô khan cứng nhắc mà vẫn cung cấp đủ những kiến thức đồng thời hình thành và phát triển năng lực tạo lập văn bản cho HS.

4.1. Xây Dựng Bài Tập Thực Hành Viết Đoạn Văn Miêu Tả Ngắn Gọn

Bài tập viết đoạn văn miêu tả ngắn gọn là một trong những cách hiệu quả để rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho HS. Các bài tập này có thể tập trung vào việc miêu tả một chi tiết cụ thể, như: Màu sắc của một bông hoa, âm thanh của một cơn mưa, hoặc cảm giác khi chạm vào một vật. GV có thể cung cấp cho HS một số từ ngữ gợi ý, hoặc yêu cầu các em tự mình lựa chọn từ ngữ phù hợp. Sau khi viết xong, HS có thể chia sẻ bài viết của mình với các bạn trong lớp, và cùng nhau thảo luận, nhận xét, và chỉnh sửa. Đối với đoạn văn trong bài văn miêu tả, có thể trình bày theo trình tự không gian, trình tự thời gian hoặc theo từng đặc điểm của đối tượng miêu tả. Chính cách thể hiện các ý theo một trình tự hợp lí như vậy tự nó cũng đã giúp cho logic của việc trình bày trở nên chặt chẽ.

4.2. Tổ Chức Các Hoạt Động Thảo Luận Nhóm Để Chia Sẻ Kinh Nghiệm

Hoạt động thảo luận nhóm là cơ hội để HS chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, và phát triển kỹ năng giao tiếp. GV có thể chia lớp thành các nhóm nhỏ, và yêu cầu các em thảo luận về một chủ đề liên quan đến văn miêu tả, như: Cách quan sát đối tượng, cách sử dụng từ ngữ, hoặc cách xây dựng đoạn văn. Trong quá trình thảo luận, GV cần đóng vai trò là người hướng dẫn, gợi ý, và giải đáp thắc mắc. Sau khi thảo luận xong, các nhóm có thể trình bày kết quả trước lớp, và cùng nhau rút ra những bài học kinh nghiệm. Các em sẽ có cảm xúc thật về đối tượng được miêu tả nên bài văn sẽ được đánh giá cao. Do đó, để HS có thể miêu tả chân thực ngay từ khâu tìm hiểu để, GV phải hướng dẫn HS xác định mục đích miêu tả trong bài viết của mình, sau đó tiếp tục hướng dẫn các em quan sát, chọn lọc chi tiết.và viết bài văn cho phù hợp với mục đích miêu tả ấy.

V. Ứng Dụng Thực Tế Đánh Giá Hiệu Quả Bài Tập Phát Triển Năng Lực

Để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập, cần thực hiện các hoạt động kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kỳ. Các hoạt động này có thể bao gồm: Kiểm tra miệng, kiểm tra viết, chấm bài tập, và nhận xét bài làm của HS. GV cần xây dựng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể, và khách quan, dựa trên các năng lực cần phát triển trong văn miêu tả. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh phương pháp dạy học, lựa chọn bài tập phù hợp, và cung cấp hỗ trợ kịp thời cho những HS gặp khó khăn. Theo tác giả Trần Thị Hương Giang, việc thực nghiệm sư phạm là cần thiết để kiểm chứng tính đúng đắn và hiệu quả của hệ thống bài tập. Cần thực nghiệm để kiểm chứng và làm sáng tỏ về tính đúng đắn, khả năng áp dụng vào thực tiễn cũng như tính thiết thực của vấn đề nghiên cứu. Nhóm năng lực phát hiện và sửa chữa lỗi là nhóm năng lực cuối cùng trong quá trình PTNL viết văn miêu tả.

5.1. Tiêu Chí Đánh Giá Bài Văn Miêu Tả Nội Dung Diễn Đạt Sáng Tạo

Các tiêu chí đánh giá bài văn miêu tả cần bao gồm: Nội dung: Bài văn có đáp ứng đúng yêu cầu của đề bài hay không? Nội dung có đầy đủ, chi tiết, và đúng trọng tâm hay không? Diễn đạt: Bài văn có sử dụng từ ngữ chính xác, sinh động, và gợi cảm hay không? Câu văn có rõ ràng, mạch lạc, và liên kết hay không? Sáng tạo: Bài văn có thể hiện được cá tính riêng của người viết hay không? Bài văn có sử dụng các biện pháp tu từ một cách sáng tạo hay không? Đánh giá tổng quan năng lực học sinh khi chấm bài.

5.2. Phương Pháp Thu Thập Phản Hồi Từ Học Sinh Về Bài Tập

Để thu thập phản hồi từ HS về bài tập, GV có thể sử dụng các phương pháp sau: Quan sát thái độ và hành vi của HS trong quá trình làm bài tập. Phỏng vấn HS về những khó khăn và thuận lợi khi làm bài tập. Yêu cầu HS tự đánh giá bài làm của mình. Thu thập ý kiến phản hồi từ HS thông qua phiếu khảo sát. Những phản hồi này giúp GV hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của HS, từ đó điều chỉnh bài tập cho phù hợp. Một bài học có thể thực hiện qua một giờ học hoặc nhiều giờ học. Mỗi một giờ học bao gồm nhiều khâu như: Mở đầu, giảng bài mới, củng cố, ra bài về nhà., giữa các khâu có mối liên hệ với nhau và cùng hướng tới thực hiện mục tiêu của bài học.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Năng Lực Viết Văn Miêu Tả Lớp 6

Việc phát triển năng lực viết văn miêu tả cho HS lớp 6 là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của cả GV và HS. Hệ thống bài tập đóng vai trò quan trọng trong việc giúp HS rèn luyện các kỹ năng cơ bản, khơi gợi cảm xúc, và kích thích sáng tạo. Để đạt được hiệu quả cao, cần xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phong phú, bám sát chương trình, và phù hợp với trình độ của HS. Đồng thời, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, tạo cơ hội cho HS được thể hiện cá tính riêng, và cung cấp những phản hồi chi tiết và cụ thể về bài viết của các em. Theo kết luận của Trần Thị Hương Giang, việc xây dựng hệ thống bài tập là một việc làm rất quan trọng, phù hợp với quan điểm dạy học hiện đại. Cần xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực cho HS một cách hoàn thiện.

6.1. Tổng Kết Những Bài Học Kinh Nghiệm Trong Quá Trình Nghiên Cứu

Qua quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Cần xác định rõ mục tiêu và yêu cầu của việc phát triển năng lực viết văn miêu tả cho HS lớp 6. Cần xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phong phú, bám sát chương trình, và phù hợp với trình độ của HS. Cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, tạo cơ hội cho HS được thể hiện cá tính riêng. Cần cung cấp những phản hồi chi tiết và cụ thể về bài viết của HS. Cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập, và điều chỉnh cho phù hợp. Quan sát là một năng lực đặc trưng của văn miêu tả. Trong tâm lí học, quan sát được hiểu là “một hình thức tri giác cao nhất, mang tính tích cực, chủ động và có mục đích rõ rệt” [44, tr. Do đó “Năng lực quan sát là khả năng tri giác nhanh chóng và chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật, hiện tượng, cho dù những điểm đó khó nhận thấy hoặc có vẻ là thứ yếu” [44, tr.

6.2. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Để Nâng Cao Hiệu Quả

Để nâng cao hiệu quả của việc phát triển năng lực viết văn miêu tả cho HS lớp 6, có thể tiếp tục nghiên cứu theo các hướng sau: Nghiên cứu về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học văn miêu tả. Nghiên cứu về việc kết hợp văn miêu tả với các thể loại văn học khác. Nghiên cứu về việc phát triển các bài tập sáng tạo, khuyến khích HS thể hiện cá tính riêng. Nghiên cứu về việc đánh giá năng lực viết văn miêu tả một cách khách quan và chính xác. Nghiên cứu về việc xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực, và sáng tạo cho HS. Nghiên cứu cách thức TLVB miêu tả. Việc xác định hợp lí và chính xác bao nhiêu thì văn bản được tạo ra càng đạt hiệu quả giao tiếp cao bấy nhiêu.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM PTNL TLVB MIÊU TẢ CHO HS LỚP 6 1. Văn miêu tả - khái niệm và một số đặc trưng cơ bản 1. Khái niệm văn miêu tả Có rất nhiều quan niệm về văn miêu tả, vì thế để đi đến một cách hiểu chung nhất về văn miêu tả không phải là một công việc dễ dàng. Trong “Từ điển Tiếng Việt”: “miêu tả” được hiểu là: “Dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được toàn thể sự vật, sự việc hoặc cả thế giới nội tâm của con người” [35, tr.

Đây là khái niệm sử dụng chung cho các loại hình nghệ thuật được bộc lộ, thể hiện bằng nghệ thuật miêu tả. Trong cuốn: “Nghệ thuật làm văn”, các học giả Pháp cho rằng: “Miêu tả là biến thành cái mà giác quan có thể xúc cảm được, là hình dung bằng miệng hay viết một đối tượng vật chất, nói cách khác, là bộc lộ bằng từ mà các nhà họa sỹ phác họa bằng màu sắc” [10,tr. Cùng với quan niệm như vậy, Philippe Hamon nói về miêu tả: “Miêu tả là một thao tác tư duy mở rộng, theo thao tác này thay vì nêu một cách đơn giản một sự vật, một đối tượng nào đó, người viết làm cho nó trở nên nhìn thấy được bằng sự trình bày sinh động, linh hoạt các đặc tính và những hoàn cảnh đáng chú ý nhất của sự vật đó” [46]. Nhìn chung, các quan niệm về miêu tả ở trên đã đề cập tới nhiều phương diện khác nhau của thuật ngữ “miêu tả” sử dụng trong văn bản nghệ thuật.

Dưới góc độ ngôn ngữ học và với quan niệm miêu tả là một trong những thể loại văn được dạy trong nhà trường, GS. Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm về miêu tả như sau: “Miêu tả là một loại văn trong đó người viết (người nói) nêu lên các đặc điểm vốn có của sự vật, nhân vật trong thực tế đã được sàng lọc qua chủ quan của người viết (người nói)” [21]. Để tiện cho việc nghiên cứu và học tập, đặc biệt là để phù hợp với việc dạy học văn miêu tả trong nhà trường THCS, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu về văn 9 download by : skknchat@gmail.com miêu tả: “Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc, người nghe bức tranh cụ thể, sinh động như nó vốn có trong đời sống nhằm tạo hiệu quả như thật về một cảnh, một người, một vật đã làm ta chú ý và cảm xúc sâu sắc”. Một số đặc trưng cơ bản của văn miêu tả Trong cuộc sống hằng ngày, miêu tả rất cần thiết và là một hành động rất phổ biến nhằm đạt tới sự chính xác, khách quan.

Còn trong văn bản nghệ thuật (văn miêu tả) có những đặc trưng riêng. Cụ thể hóa khái niệm về văn miêu tả được đề cập tới ở trên, chúng ta thấy văn miêu tả có một số đặc trưng cơ bản sau: a) Tính cụ thể sinh động. Theo Philippe Hamon: “Sự miêu tả phải thật sự sinh động để có thể gây ấn tượng cho độc giả” [46]. Fredrick Crews cũng nhấn mạnh: “Khi ta viết một đoạn văn miêu tả, ta muốn làm cho nó trở nên sinh động: một địa điểm, một khách thể, một con vật, một tính cách hoặc một nhóm người.

Điều đó có nghĩa là, đáng lẽ chỉ đơn giản truyền đạt những sự kiện về vật được miêu tả thì ta lại muốn cho người đọc có một ấn tượng trực tiếp về vật đó y như đang đứng trước sự có mặt của vật đó. Nhiệm vụ của ta là bằng cách tìm kiếm các từ truyền lại cái mà giác quan của ta đã ghi lại vật đó đến mức người đọc có thể so sánh vật đó với những hình ảnh họ đã có trong vốn kinh nghiệm của mình” [45]. Tính cụ thể và sinh động trong văn miêu tả cũng là sự hàm súc, là tả ít, gợi nhiều, tả làm sao để người đọc có một ấn tượng đặc biệt về thực tế của những hình ảnh, những vật, những con người được tả, từ đó mở rộng trường liên tưởng của họ. Cái tạo nên tính cụ thể, sinh động của văn miêu tả là những chi tiết “sống”, gây ấn tượng, mà nếu không có nó bài văn sẽ trở nên nhạt nhẽo vô vị.

Những chi tiết sống động đó được lấy từ sự quan sát cuộc sống xung quanh, từ kinh nghiệm của bản thân người viết. Theo Nguyễn Trí một trong những nhược điểm của HS khi làm văn miêu tả là: “Miêu tả hời hợt, chung chung, không có một sắc thái riêng biệt nào của đối tượng” [41]. Ví dụ: miêu tả: “Cô giáo dạy văn của em” nhưng đọc lên không thấy điểm riêng biệt của cô giáo dạy văn với cô giáo dạy toán và các cô giáo dạy văn khác. hay khi miêu tả “Chiếc cặp sách của em” nhưng đọc lên không thấy chiếc cặp của em có điểm gì khác so với chiếc cặp của bạn.

Có thể kể đến một nguyên nhân của hiện tượng này 10 download by : skknchat@gmail.com là do HS không biết cách quan sát, không được quan sát đối tượng cụ thể, kỹ lưỡng cho nên không lựa chọn được những chi tiết đặc sắc, nổi bật, riêng biệt của đối tượng miêu tả. Vì thế, để HS biết miêu tả , để bài viết của HS có những chi tiết cụ thể, sinh động về đối tượng, cần phải có những bài tập nhằm phát triển năng lực quan sát cho HS, nhằm giúp các em biết cách sử dụng giác quan, lựa chọn trình tự quan sát hợp lý, biết cách thu nhận những nhận xét, so sánh, liên tưởng. làm tư liệu cho bài văn của mình. b) Tính sáng tạo.

Khi miêu tả bao giờ người viết cũng quan sát đối tượng theo lăng kính chủ quan và đánh giá đối tượng theo quan điểm thẩm mỹ riêng của mình. Do đó, những chi tiết khi miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan. Philippe Hamon cho rằng: “Năng lực miêu tả là một năng lực đặc biệt phản ánh niềm đam mê sáng tạo của người nghệ sỹ. Nó có những lối vẽ và những quan niệm riêng.

Bức vẽ đó phải tác động vào độc giả” [46]. Tính sáng tạo trong văn miêu tả chính là dấu ấn phong cách người viết, nó thể hiện ở từng sự vật, cảnh vật, nhân vật. trong mỗi đoạn văn, bài văn miêu tả. Do những lý do và điều kiện khác nhau mà mỗi nhà văn có “Lối vẽ và quan điểm riêng”, hình thành những bức tranh miêu tả riêng biệt.

Ví dụ: Tô Hoài “say mê” miêu tả đặc biệt là cảnh thiên nhiên, phong tục, còn Nam Cao ít khi tả phong cảnh thiên nhiên, cảnh vật của Nam Cao gắn liền với việc bộc lộ tâm trạng nhân vật. Nguyễn Công Hoan lại chú trọng đến miêu tả ngoại hình nhân vật. Cái làm nên sự khác nhau đó chính là sự tài năng, là cá tính, là sự rung động sâu sắc cá tính trước cảnh , trước con người của mỗi nhà văn. Do đó, cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi người viết lại nhìn nhận, cảm nhận chúng theo những cách hoàn toàn khác nhau.

Rõ ràng ,văn miêu tả là một lại văn bản có tính nghệ thuật, đòi hỏi rất nhiều ở người viết khả năng sáng tạo. Dó đó, hệ thống bài tập nhằm PTNL viết văn miêu tả cho HS là một hệ thống mở, mở ra nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách cảm thụ cho HS. Các bài tập còn phải chú ý nhiều đến tính đa dạng để vừa có tác dụng hình thành cho HS cách nói, cách nghĩ, cách làm linh hoạt, vừa khắc phục được sự đơn điệu nhàm chán, tăng cường hứng thú học tập, giúp các em bộc lộ những cái riêng, cái mới khi làm văn miêu tả. c) Tính chân thực.

11 download by : skknchat@gmail.com Theo nhà văn Phạm Hổ, trong văn miêu tả: “Cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chân thực” [33,tr12]. Tính chân thực đòi hỏi người viết phải miêu tả bằng những chi tiết sát thực, đúng với bản chất của đối tượng miêu tả. Điều này có liên quan chặt chẽ đến việc quan sát để lựa chọn chi tiết. Tính chân thực ở đây còn được hiểu là sự chân thật trong cách cảm, cách nghĩ: “Khi người ta chân thật, thì dù cái điều người ta viết ra là vô lý, người đọc vẫn chấp nhận và vẫn thấy hay.Tôi thấy các nhà văn lớn thường chân thật ngay từ những quan sát để từ đó tiến đến sự chân thật trong những cái lớn hơn” [33, tr.

Trong ví dụ dưới đây ta thấy Tô Hoài miêu tả Dế Mèn thật sống động như cảnh thực, việc thực đang “bày” ra trước mắt chúng ta: “Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua.

Đôi cánh tôi trước kia ngắn hủn hoẳn, bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phàng phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Đầu tôi to ra và nổi từng tảng, rất bướng.

Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Nếu không biết quan sát, quan sát không tinh, chọn lọc không kĩ thì đoạn văn miêu tả chú Dế Mèn không thể thật và sống động đến vậy. Cho nên, khi quan sát hàng loạt các chi tiết, người quan sát thu nhận và phải có sự chọn lọc.

Hiện nay, hiện tượng HS sao chép văn mẫu hoặc bài làm văn miêu tả thiếu chân thực khá phổ biến. Điều đó dẫn đến việc HS không cần quan sát, không có cảm xúc thật về đối tượng được miêu tả. Do không có tính chân thực nên bài văn không được đánh giá cao. Do đó, để HS có thể miêu tả chân thực ngay từ khâu tìm hiểu để, GV phải hướng dẫn HS xác định mục đích miêu tả trong bài viết của mình, sau đó tiếp tục hướng dẫn các em quan sát, chọn lọc chi tiết.và viết bài văn cho phù hợp với mục đích miêu tả ấy.

d) Tính hấp dẫn, truyền cảm. 12 download by : skknchat@gmail.com Dủ miêu tả bất kì đối tượng nào và miêu tả bằng cách nào, người viết cũng phải tạo ra tính hấp dẫn, truyền cảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ