Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Phát triển năng lực tư vấn của người giáo viên trung học phổ thông", chuyên ngành Lí luận và Lịch sử giáo dục (mã số: 9 14 01 02), do nghiên cứu sinh Lê Thị Quỳnh Nga thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Hữu Châu và PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng vào năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, học sinh trung học phổ thông (THPT) phải đối mặt với những biến đổi nhanh chóng về tâm - sinh lí lứa tuổi và các thách thức đa dạng trong học tập, định hướng nghề nghiệp, giao tiếp ứng xử gia đình, bạn bè, thầy cô, cũng như các vấn đề giá trị sống và pháp luật. Vai trò của người giáo viên (GV) hiện nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức môn học mà còn phải hỗ trợ học sinh (HS) tháo gỡ khó khăn nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Trách nhiệm này được thể chế hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo chuyên môn: Điều 72 Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2005 và 2009); Công văn số 9971/BGD&ĐT-HSSV ngày 28/10/2005; Chỉ thị số 1537/CT-BGDĐT ngày 05/05/2014; Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học (tiêu chuẩn 2 Điều 5 và tiêu chuẩn 4 Điều 7); Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn công tác tư vấn tâm lí trong nhà trường phổ thông.

Mặc dù thực tiễn ghi nhận GV đã chủ động hỗ trợ HS, hoạt động này phần lớn vẫn dựa trên kinh nghiệm cá nhân thuần túy; kiến thức và kĩ năng tư vấn có hệ thống chưa được trang bị đầy đủ. Đội ngũ nhân sự tham vấn học đường chuyên trách tại Việt Nam còn thiếu hụt nghiêm trọng. Vì vậy, việc phát triển năng lực tư vấn (NLTV) cho người GV THPT như một năng lực giáo dục cốt lõi là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục phổ thông.

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, luận án xây dựng các biện pháp phát triển NLTV của người GV THPT nhằm nâng cao năng lực giáo dục của họ, đáp ứng xu thế đổi mới giáo dục.

Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được khung NLTV của người GV THPT; đồng thời xây dựng và triển khai chương trình bồi dưỡng nhằm phát triển NLTV của người GV THPT; và phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng NLTV cho GV theo khung NLTV đã xây dựng thì sẽ góp phần nâng cao NLTV cho họ, đáp ứng yêu cầu giáo dục HS hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển NLTV của người GV THPT.
  2. Đánh giá thực trạng NLTV của GV THPT và thực trạng phát triển NLTV của người GV ở các trường THPT.
  3. Đề xuất các biện pháp phát triển NLTV của người GV THPT.
  4. Thực nghiệm các biện pháp phát triển NLTV của người GV THPT.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển năng lực giáo dục của người GV trong nhà trường THPT.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển NLTV của người GV trong nhà trường THPT.

Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung nghiên cứu: Luận án giới hạn đối tượng được tư vấn là HS THPT. NLTV được tiếp cận dưới góc độ là một năng lực giáo dục mà mọi GV THPT cần có để thực hiện chức năng sư phạm, không nghiên cứu năng lực chuyên biệt của nhà tham vấn chuyên nghiệp hay cán bộ kiêm nhiệm phòng tư vấn học đường. Các biện pháp phát triển NLTV tập trung theo hướng bồi dưỡng nghề nghiệp thường xuyên.
  • Về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 6 trường THPT thuộc Hà Nội, Thanh Hóa và Thành phố Hồ Chí Minh (đại diện cho nội thành và ngoại thành của 3 miền Bắc, Trung, Nam). Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 2 trường THPT (nội thành và ngoại thành) trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

  • Về tư vấn học đường (TVHĐ): TVHĐ khởi nguồn tại Hoa Kỳ từ đầu thế kỉ XX với công trình "Hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức" của Jesse B. Davis (1907) và cuốn sách "Lựa chọn nghề nghiệp" của Frank Parsons (1909). Năm 1939, Edmund G. Williamson công bố Lí thuyết về các nhân tố và đặc điểm với quy trình 5 bước tư vấn (phân tích, tổng hợp, chẩn đoán, tư vấn/trợ giúp, theo dõi). Sự phát triển của lĩnh vực này gắn liền với các mốc pháp lí: Đạo luật George Barden (1946), Đạo luật Giáo dục Phòng ngừa Quốc gia NDEA (1958), sự thành lập Hiệp hội Tham vấn Học đường Hoa Kỳ ASCA (1953), tác phẩm của Wrenn (1962), Luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (1965), và Khung chuẩn quốc gia ASCA (1997).
  • Về năng lực tư vấn của giáo viên: Nhiều nghiên cứu quốc tế khẳng định vai trò của GV với tư cách người tư vấn (consulting teacher): công trình [103] xác định 6 năng lực cơ bản của GV; nghiên cứu [121] nêu 8 nhóm năng lực trong đó có NLTV; nghiên cứu của Đại học Stanford [131], Derrick Meador [132], Pugach [120], Good [92], Beerens [94], và kết quả khảo sát 400 HS trung học tại Philadelphia [99]. Robert Carkhuff [95] phân định rõ vai trò của người trợ giúp không chuyên/nghiệp dư (lay helpers) và người trợ giúp chuyên nghiệp (professional helpers).
  • Về cấu trúc năng lực: Innes, Leboeuf-Yde & Walker [110], Glenn M. & Mary Jo Blahna (2005) [115], và mô hình ASK (Attitude - Skill - Knowledge) phát triển từ Benjamin Bloom của Bakarman [91] đều khẳng định cấu trúc năng lực gồm ba trụ cột: Tri thức, Kĩ năng và Thái độ. Chuẩn năng lực tham vấn của ISPA [129], NACAC [130], Philip Burnard [93], và ASCA [128] cung cấp cơ sở để xác định các yêu cầu nền tảng.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nghiên cứu nền tảng về tư vấn và tham vấn: Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sáng lập Trung tâm NT (1984); Đặng Quốc Bảo [7] vận dụng sơ đồ nhân cách đề xuất phương án sư phạm theo 4 nhóm HS; các công trình của Trần Thị Minh Đức [26, 27, 28], Lê Quang Huy [44], Trần Tuấn Lộ [49], Trần Thị Giồng [29], Bùi Thị Xuân Mai [55].
  • Khảo sát nhu cầu và thực trạng: Các công trình nghiên cứu của Đinh Thị Kim Thoa [75], Nguyễn Thị Ngọc Bích [9], Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường [8], Nguyễn Tùng Lâm & Nguyễn Ngọc Diệp [20].
  • Tài liệu và đề án bồi dưỡng: Tài liệu bồi dưỡng của Cục Nhà giáo do Nguyễn Thị Mùi & Nguyễn Thị Nhân Ái biên soạn [57]; Chuyên đề 2 trong Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh GV THPT hạng II (Quyết định 2509/QĐ-BGDĐT năm 2016) [13]; Đề tài bồi dưỡng NLTV tâm lí cho GVCN cấp THCS [81]; Nhiệm vụ nghiên cứu bồi dưỡng NLTVHĐ cho GVCN trường THPT của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (theo Quyết định 1876/QĐ-BGDĐT và Quyết định 2496/QĐ-BGDĐT năm 2018) [82]; Tài liệu dự án của Plan International Việt Nam [22]; Luận án của Hoàng Anh Phước [67] về kĩ năng tham vấn học đường.
Tiêu chí Tư vấn (Consultancy) Tham vấn (Counseling)
Mục tiêu Giải quyết vấn đề hiện tại, mang tính tức thời, trực tiếp xử lí tình huống khó khăn. Nâng cao khả năng tự nhận thức lâu dài, khơi dậy tiềm năng để thân chủ tự giải quyết vấn đề.
Tiến trình Thời gian ngắn, diễn ra nhanh chóng tại thời điểm nảy sinh vấn đề. Quy trình kéo dài qua nhiều phiên làm việc có cấu trúc chặt chẽ.
Mối quan hệ Mối quan hệ hỗ trợ không ngang hàng (người có hiểu biết/kinh nghiệm trợ giúp người hỏi). Mối quan hệ tương tác bình đẳng, tôn trọng và hợp tác sâu sắc giữa hai bên.
Cách thức tương tác Cung cấp thông tin chuyên môn, định hướng, đưa ra lời khuyên hoặc phương án xử lí. Gợi mở, lắng nghe, phản hồi để đối tượng tự nhận diện và lựa chọn giải pháp.
Năng lực người thực hiện Năng lực của người trợ giúp bán chuyên nghiệp (paraprofessional helper / consulting teacher). Năng lực của chuyên gia trợ giúp chuyên nghiệp (professional helper / counselor).
Không gian thực hiện Linh hoạt (lớp học, hành lang, sân trường, phòng giáo viên, thư viện...). Không gian chuyên biệt, yên tĩnh, bảo mật tuyệt đối (phòng tham vấn tâm lí).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào: (1) Tham vấn tâm lí chuyên sâu; (2) Phát triển năng lực cho cán bộ chuyên trách phòng tư vấn học đường; hoặc (3) Bồi dưỡng riêng cho giáo viên chủ nhiệm. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Xây dựng cơ sở lí luận và hệ thống biện pháp phát triển NLTV cho người GV THPT nói chung với tư cách là một năng lực giáo dục nền tảng, xuất phát từ đặc thù lao động nghề nghiệp và vốn kinh nghiệm sư phạm của người giáo viên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Tiếp cận nghiên cứu

  • Tiếp cận giá trị: Dựa trên trụ cột giáo dục của UNESCO ("học để tự khẳng định mình"), xem NLTV là giá trị nghề nghiệp cần thiết để GV khẳng định vị thế sư phạm và hoàn thành nhiệm vụ giáo dục.
  • Tiếp cận hoạt động: Vận dụng lí thuyết hoạt động, xem quá trình phát triển NLTV là một chuỗi hoạt động có cấu trúc logic vòng tròn khép kín gồm ba khâu: thiết kế hoạt động, thực hiện hoạt động, đánh giá hoạt động.
  • Tiếp cận năng lực: Chuyển trọng tâm từ truyền thụ nội dung sang phát triển năng lực thực hành, hình thành tri thức, kĩ năng và thái độ tư vấn để giải quyết các tình huống thực tiễn sư phạm.

Cơ sở khoa học liên ngành

  • Cơ sở triết học: Nguyên lí về sự phát triển của Chủ nghĩa duy vật biện chứng; việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tư vấn phong phú của HS và năng lực tư vấn hiện có của GV; trong đó ngoại lực là điều kiện bồi dưỡng, nội lực tự giác của GV là yếu tố quyết định.
  • Cơ sở tâm lí học: Dựa trên các nghiên cứu của Nguyễn Quang Uẩn [85], Nguyễn Kế Hào [30] về ý thức nghề nghiệp, sự say mê sư phạm, các phẩm chất nhận thức, tình cảm và ý chí nghề nghiệp.
  • Cơ sở giáo dục học: Nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn; xem GV vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình bồi dưỡng thường xuyên.

Khái niệm công cụ và Cấu trúc khung NLTV

  • Năng lực tư vấn của người GV THPT: Là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép người GV thực hiện thành công các yêu cầu của hoạt động tư vấn cho HS, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể nhằm trợ giúp HS giải quyết hiệu quả các vấn đề gặp phải trong quá trình học tập ở nhà trường.
  • Cấu trúc Khung NLTV của người GV THPT được xây dựng theo mô hình ASK:
    1. Hệ thống kiến thức về tư vấn: Kiến thức lí thuyết cơ bản về tư vấn; Kiến thức về đối tượng tư vấn (đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi HS THPT); Kiến thức về nội dung, môi trường và điều kiện tư vấn (nguyên tắc đạo đức, bảo mật, tôn trọng).
    2. Hệ thống kĩ năng tư vấn (thành tố cốt lõi): Kĩ năng lắng nghe; Kĩ năng đặt câu hỏi; Kĩ năng thấu cảm; Kĩ năng phản hồi (phản hồi thông tin và phản hồi cảm xúc/tâm trạng); Kĩ năng cung cấp thông tin.
    3. Hệ thống thái độ tư vấn: Tình cảm tư vấn (nhiệt tình, tự tin); Động cơ tư vấn (mục tiêu rõ ràng, tích cực, chủ động); Ý chí tư vấn (khắc phục khó khăn, kiên trì, tự học và tự rèn luyện).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, hồi cứu và hệ thống hóa tài liệu khoa học.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động tư vấn và ứng xử sư phạm của GV trong nhà trường.
    • Điều tra bằng phiếu hỏi: Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đóng/mở trên 2 nhóm đối tượng: CBQL/GV và HS THPT.
    • Phỏng vấn sâu: Trò chuyện chuyên sâu với GV và HS để làm rõ nhận thức và nhu cầu tư vấn.
    • Nghiên cứu trường hợp (case study): Nghiên cứu sâu các điển hình GV thực hiện tư vấn hiệu quả cho HS.
    • Khảo nghiệm chuyên gia: Tổ chức các buổi seminar khoa học, xin ý kiến đánh giá từ các chuyên gia Tâm lí học và Giáo dục học.
    • Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học, bồi dưỡng thực nghiệm trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC).
  • Phương pháp xử lí dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để xử lí thống kê mô tả, kiểm định tương quan, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực tư vấn của người giáo viên trung học phổ thông

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu TVHĐ trên thế giới và tại Việt Nam. Luận án phân định tường minh hai khái niệm Consultancy (Tư vấn) và Counseling (Tham vấn), từ đó xác định vị trí của người GV là người trợ giúp bán chuyên nghiệp (consulting teacher), đáp ứng các yêu cầu về năng lực cơ bản của hoạt động trợ giúp.

Chương này phân tích sâu sắc các đặc điểm tâm - sinh lí của lứa tuổi HS THPT (16–18 tuổi), nhận diện 3 nhóm nhu cầu tư vấn chính:

  1. Nhu cầu tư vấn về học tập: Thích ứng môi trường THPT, phương pháp học tập khoa học, chọn môn học và chuyên đề theo Chương trình GDPT 2018.
  2. Nhu cầu tư vấn về tâm - sinh lí và giao tiếp: Nhu cầu khẳng định cảm giác làm người lớn, quan hệ bạn bè, biến đổi sinh lí lứa tuổi, giới tính và tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội.
  3. Nhu cầu tư vấn định hướng nghề nghiệp: Định hình động cơ chọn nghề, khắc phục sự lựa chọn cảm tính để phù hợp năng lực bản thân và nhu cầu xã hội.

Trên cơ sở mô hình ASK, chương 1 thiết lập cấu trúc Khung NLTV gồm 3 thành tố: Kiến thức tư vấn, Kĩ năng tư vấn (lắng nghe, đặt câu hỏi, thấu cảm, phản hồi, cung cấp thông tin), và Thái độ tư vấn (tình cảm, động cơ, ý chí). Luận chứng các cơ sở triết học, tâm lí học và giáo dục học cho quá trình phát triển NLTV.

Chương 2: Thực trạng năng lực tư vấn của người giáo viên trung học phổ thông

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 6 trường THPT trên địa bàn Hà Nội, Thanh Hóa và TP. Hồ Chí Minh. Nội dung khảo sát bao gồm:

  • Thực trạng nhu cầu tư vấn của HS THPT: Tỉ lệ HS thường xuyên gặp khó khăn trong học tập và đời sống; mức độ kì vọng và các kênh tìm kiếm sự trợ giúp (Bảng 2.4, 2.5, 2.6, 2.7).
  • Thực trạng nhận thức về NLTV: Nhận thức của CBQL, GV và HS về vai trò của công tác tư vấn; mức độ cần thiết phải bồi dưỡng NLTV (Bảng 2.8, 2.9).
  • Thực trạng biểu hiện NLTV của GV THPT: Đánh giá thực trạng tri thức tư vấn, kĩ năng tư vấn (Bảng 2.10: điểm trung bình các kĩ năng lắng nghe, đặt câu hỏi, thấu cảm, phản hồi, cung cấp thông tin) và thái độ tư vấn; mức độ hài lòng của HS đối với hoạt động tư vấn của GV (Bảng 2.11).
  • Thực trạng các con đường và yếu tố ảnh hưởng: Phân tích thực trạng bồi dưỡng hiện thời, các yếu tố khách quan (chính sách, thời gian, cơ sở vật chất) và chủ quan (động lực, nhận thức, kỹ năng tự học) tác động đến phát triển NLTV.
  • Kiểm định mô hình: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 2.12) và mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA (Hình 2.11) khẳng định tính giá trị của cấu trúc Khung NLTV đề xuất.

Chương 3: Biện pháp phát triển năng lực tư vấn của người giáo viên trung học phổ thông

Dựa trên 5 nguyên tắc sư phạm: (1) Đáp ứng mục tiêu giáo dục; (2) Đảm bảo tính hệ thống và tính liên tục; (3) Đảm bảo tính kế thừa và phát triển; (4) Đảm bảo tính khả thi; (5) Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và kinh nghiệm nghề nghiệp của GV; luận án đề xuất 4 biện pháp đồng bộ:

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  KHUNG NĂNG LỰC TƯ VẤN CHO GV THPT                      |
|       (Chuẩn hóa tiêu chí: Kiến thức - Kĩ năng - Thái độ tư vấn)        |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
             +-----------------------+-----------------------+
             |                                               |
             v                                               v
+--------------------------+                   +--------------------------+
|  Tổ chức Seminar chuyên  |                   |   Hướng dẫn thực hành,   |
|   đề bồi dưỡng NLTV      | <---------------> |  phân tích ca tư vấn     |
| (Trang bị tri thức cơ sở)|                   |  (Rèn luyện 5 nhóm KN)   |
+--------------------------+                   +--------------------------+
             |                                               |
             +-----------------------+-----------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|        Rèn luyện kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng NLTV cho GV THPT          |
|      (Tự đánh giá, giải quyết tình huống thực tế, phát triển nội lực)   |
+-------------------------------------------------------------------------+
  • Biện pháp 1: Đề xuất khung NLTV cho GV THPT: Chuẩn hóa hệ thống tiêu chí kiến thức, 5 nhóm kĩ năng cốt lõi và thái độ làm căn cứ để GV tự đối chiếu và các cơ sở giáo dục thiết kế chương trình bồi dưỡng.
  • Biện pháp 2: Thiết kế và tổ chức seminar chuyên đề NLTV của người GV THPT: Xây dựng nội dung chuyên đề lí luận kết hợp trao đổi nhóm, nâng cao nhận thức và trang bị tri thức nền tảng về tâm lí học sinh, kĩ thuật tư vấn.
  • Biện pháp 3: Hướng dẫn thực hành, phân tích ca tư vấn của người GV THPT: Tổ chức rèn luyện trực tiếp 5 nhóm kĩ năng (lắng nghe, đặt câu hỏi, thấu cảm, phản hồi, cung cấp thông tin) thông qua phân tích các tình huống và ca tư vấn sư phạm điển hình.
  • Biện pháp 4: Rèn luyện kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng NLTV cho GV THPT: Hướng dẫn quy trình tự học, lập kế hoạch cá nhân, ghi chép nhật kí tư vấn và khai thác tài nguyên học tập để duy trì việc phát triển năng lực liên tục.

Mối liên hệ giữa các biện pháp: Biện pháp 1 là định hướng khung chuẩn; Biện pháp 2 trang bị nền tảng lí thuyết; Biện pháp 3 rèn luyện kĩ năng hành động thực tế; Biện pháp 4 phát huy nội lực tự bồi dưỡng bền vững.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 tiến hành qua hai bước:

  • Khảo nghiệm ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến các chuyên gia Tâm lí học và Giáo dục học về tính cần thiết, tính hợp lí và tính khả thi của các nội dung và biện pháp đề xuất (Bảng 4.1). Kết quả khảo nghiệm đạt mức đồng thuận cao.
  • Thực nghiệm sư phạm: Chọn mẫu thực nghiệm tại 2 trường THPT ở Hà Nội (Bảng 4.2), chia thành nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC). Triển khai quy trình bồi dưỡng theo 4 biện pháp đã thiết kế.
  • Đánh giá kết quả: So sánh đối chiếu trước và sau thực nghiệm:
    • Điểm kiểm tra kiến thức về tư vấn: Phân tích đường tích lũy điểm trước và sau TN giữa nhóm TN và ĐC (Hình 4.1, 4.2, 4.3).
    • Quan sát kĩ năng tư vấn: Biểu đồ phân phối mức độ thuần thục 5 nhóm KNTV của nhóm TN có sự cải thiện rõ rệt so với nhóm ĐC (Hình 4.4, 4.5, 4.6).
    • Quan sát thái độ tư vấn: Biểu đồ phân phối mức độ tích cực về tình cảm, động cơ và ý chí tư vấn của nhóm TN tăng trưởng có ý nghĩa thống kê (Hình 4.7, 4.8, 4.9).
  • Khẳng định tính khả thi và hiệu quả của hệ thống biện pháp bồi dưỡng trong thực tiễn nhà trường phổ thông.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận giải và làm rõ sự khác biệt giữa hai thuật ngữ Tư vấn (Consultancy) và Tham vấn (Counseling), xác định rõ vị trí của người GV THPT là người trợ giúp bán chuyên nghiệp (consulting teacher), đưa hoạt động tư vấn của GV vào phạm trù năng lực giáo dục sư phạm.
  2. Xây dựng mô hình lí thuyết về Khung NLTV của người GV THPT theo cấu trúc 3 thành tố (Kiến thức, Kĩ năng, Thái độ), xác định rõ hệ thống 5 kĩ năng tư vấn cốt lõi: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng thấu cảm, kĩ năng phản hồi và kĩ năng cung cấp thông tin.
  3. Xác lập cơ sở khoa học liên ngành (Triết học, Tâm lí học, Giáo dục học) cho quá trình hình thành và phát triển NLTV của đội ngũ giáo viên.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng khách quan, toàn diện về nhu cầu tư vấn của HS THPT và thực trạng NLTV của người GV tại các trường THPT đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam.
  2. Xây dựng hệ thống 4 biện pháp bồi dưỡng phát triển NLTV có tính linh hoạt, gắn liền với thực tiễn giảng dạy, phát huy tối đa kinh nghiệm sư phạm và khả năng tự học của GV.
  3. Bộ công cụ khảo sát, hệ thống ca tư vấn thực hành và khung năng lực có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành chuẩn hoặc tiêu chí cụ thể về NLTV trong Chuẩn nghề nghiệp giáo viên; bổ sung các chuyên đề bồi dưỡng kĩ năng tư vấn vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên hàng năm.
  • Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên (trường Đại học Sư phạm): Tích hợp học phần/chuyên đề về kĩ năng tư vấn học đường vào chương trình đào tạo sinh viên sư phạm.
  • Đối với các trường THPT: Tạo điều kiện về thời gian, không gian, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, seminar chuyên đề và ghi nhận hoạt động tư vấn học sinh như một tiêu chí đánh giá thi đua sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động tư vấn của GV đối với đối tượng HS THPT, chưa mở rộng sang đối tượng phụ huynh học sinh hay đồng nghiệp. Phạm vi khảo sát thực trạng giới hạn ở 6 trường THPT và địa bàn thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai tại 2 trường THPT trên địa bàn Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi thực nghiệm sư phạm trên nhiều tỉnh thành và các loại hình trường THPT khác nhau (trường chuyên, trường dân lập, trường vùng khó khăn).
    • Nghiên cứu phát triển kĩ năng tư vấn trực tuyến (online consulting) cho GV trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục.
    • Xây dựng hệ thống học liệu điện tử, phần mềm hỗ trợ quản lí ca tư vấn và tự bồi dưỡng NLTV cho giáo viên phổ thông.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Khoa học Giáo dục: Tài liệu cung cấp khung lí luận chuyên sâu về phân định tư vấn - tham vấn, mô hình ASK trong sư phạm và hệ phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng (EFA, CFA, thực nghiệm đối chứng).
  • Đối với cán bộ quản lí giáo dục và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bổ sung nội dung đánh giá chuẩn nghề nghiệp GV.
  • Đối với giáo viên THPT: Bộ tài liệu tham khảo hữu ích về quy trình thực hành 5 kĩ năng tư vấn cơ bản, phương pháp xử lí ca sư phạm thực tế và kĩ năng tự bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

1. Năng lực tư vấn của giáo viên THPT khác gì so với năng lực của cán bộ tham vấn tâm lí học đường chuyên nghiệp?

Người làm tham vấn học đường chuyên nghiệp (counselor) là người được đào tạo chuyên sâu về tâm lí học trị liệu/tham vấn, thực hiện các ca can thiệp chuyên sâu, dài hạn trong không gian bảo mật riêng biệt. Người GV THPT làm công tác tư vấn (consulting teacher) với tư cách người trợ giúp bán chuyên nghiệp (paraprofessional helper); hoạt động tư vấn gắn liền với nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, tập trung giải quyết các vấn đề khó khăn cụ thể, tức thời của HS trong học tập, giao tiếp và chọn nghề, diễn ra linh hoạt trong không gian nhà trường.

2. Khung năng lực tư vấn của giáo viên THPT gồm những thành tố nào?

Khung NLTV gồm 3 thành tố chính:

  • Kiến thức: Kiến thức lí thuyết cơ bản về tư vấn; Kiến thức về đặc điểm tâm sinh lí HS THPT; Kiến thức về nội dung, môi trường và đạo đức tư vấn.
  • Kĩ năng (cốt lõi): Kĩ năng lắng nghe, Kĩ năng đặt câu hỏi, Kĩ năng thấu cảm, Kĩ năng phản hồi, Kĩ năng cung cấp thông tin.
  • Thái độ: Tình cảm tư vấn (nhiệt tình, tự tin); Động cơ tư vấn (tích cực, chủ động); Ý chí tư vấn (kiên trì khắc phục khó khăn, tự học tự rèn luyện).

3. Kĩ năng nào được xác định là quan trọng nhất trong hệ thống kĩ năng tư vấn của giáo viên?

Luận án xác định kĩ năng lắng nghe là kĩ năng quan trọng nhất, quyết định sự thành công của hoạt động tư vấn. Khi được GV lắng nghe trọn vẹn và tôn trọng, HS cảm thấy được quan tâm, giải tỏa bức xúc tâm lí, tạo dựng niềm tin để cởi mở chia sẻ bản chất vấn đề, từ đó giúp GV nắm bắt chính xác thông tin và định hướng giải pháp phù hợp.

4. Luận án đã đề xuất những biện pháp cụ thể nào để phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên THPT?

Luận án đề xuất 4 biện pháp đồng bộ:

  1. Đề xuất khung NLTV cho GV THPT làm căn cứ chuẩn hóa.
  2. Thiết kế và tổ chức seminar chuyên đề NLTV của người GV THPT.
  3. Hướng dẫn thực hành, phân tích ca tư vấn của người GV THPT.
  4. Rèn luyện kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng NLTV cho GV THPT.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm đã chứng minh điều gì?

Kết quả kiểm tra kiến thức (qua phân tích đường tích lũy điểm) và quan sát thực hành kĩ năng, thái độ tư vấn (qua các biểu đồ phân phối) cho thấy nhóm thực nghiệm có sự chuyển biến vượt trội so với nhóm đối chứng. Điều này chứng minh tính hợp lí, tính khả thi và hiệu quả thực tiễn của hệ thống biện pháp bồi dưỡng do luận án đề xuất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Quỳnh Nga đã giải quyết một vấn đề vừa mang tính cấp thiết thực tiễn, vừa có ý nghĩa khoa học sâu sắc trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông tại Việt Nam. Bằng việc phân định rõ chức năng tư vấn của người giáo viên như một năng lực giáo dục nền tảng, công trình đã xác lập thành công Khung năng lực tư vấn gồm 3 thành tố: Kiến thức, Kĩ năng cốt lõi và Thái độ sư phạm. Hệ thống 4 biện pháp bồi dưỡng được thiết kế khoa học, có sự gắn kết hữu cơ và đã được kiểm chứng tính hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm đối chứng chặt chẽ. Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THPT hiện nay.