CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về tư vấn học đường TVHĐ là vấn đề được xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, được xã hội quan tâm và được các nhà GD của nhiều quốc gia nghiên cứu. Trên thế giới, TVHĐ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX tại Hoa Kỳ, và công trình "Hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức" [100] cho HS ở các trường THPT công lập Hoa Kỳ đã giúp Jesse B.
Davis trở thành một trong những người đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực này. Trong chương trình này ông có đề cập đến việc giúp đỡ HS trong các vấn đề về GD, đạo đức, phát triển nhân cách, phòng ngừa những vấn đề thường gặp. Năm 1909, người được xem như cha đẻ của nghề hướng dẫn (Guidance) Frank Parsons đã viết cuốn sách "Lựa chọn nghề nghiệp" [119], trong đó ông đã phân tích những đặc điểm kết nối tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp cụ thể. Đây có thể xem là sự khởi đầu cho sự phát triển của ngành TVHĐ.
Năm 1939, Lý thuyết về các nhân tố và đặc điểm của Edmund G. Williamson [112] ra đời như là lý thuyết đầu tiên về Hướng dẫn. Lý thuyết này ngay sau đó đã trở nên nổi tiếng và trở thành kim chỉ nam cho hoạt động TV. Nét đặc trưng và những nhân tố chính của lý thuyết này liên quan đến một chuỗi hoạt động bao gồm 5 bước: (1) Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ cá nhân đối với thân chủ; (2) Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để nhận diện vấn đề; (3) Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề; (4) TV, trợ giúp để cá nhân tự tìm cách giải quyết; (5) Theo dõi một cách sát xao với thân chủ.
Năm 1946, đạo luật George Barden [113] - đạo luật về giáo dục hướng nghiệp - ra đời đã đánh dấu sự phát triển rõ rệt cho hoạt động hướng dẫn và TVHĐ. Đạo luật này ra đời là căn cứ pháp lí cho hoạt động TVHĐ và từ đây các nhà TVHĐ mới bắt đầu nhận được sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ về cả tài chính lẫn nguồn lực thực hiện. Năm 1958, đạo luật Giáo dục phòng ngừa quốc gia (National Defense Education Act - NDEA) [123] ra đời và được ví như sự kiện vệ tinh Sputnik của Nga được phóng vào quỹ đạo. Đạo luật NDEA nhằm: (1) Cung cấp nguồn lực cần thiết để các bang triển khai các hoạt động TV và hướng dẫn trong trường học; (2) Ủy quyền cho các cơ sở đào tạo thiết kế và tổ chức các chương trình đào tạo TVHĐ.
9 Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (American School Counselor Association - ASCA) đã tham gia vào Hiệp hội các nhà TV Hoa Kỳ (American Personnel and Guidance Association - APGA), tiền thân của hiệp hội tham vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay [112]. Năm 1962, cuốn sách "Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi” của Wrenn [127] đã cụ thể hóa các mục tiêu của tham vấn học đường. Trên cơ sở đó, ASCA đã phát triển nghiên cứu và xác định rõ các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn học đường vào năm 1964. Năm 1965, Luật Giáo dục Tiểu học và Trung học [111] ra đời và xây dựng nguồn quỹ để hỗ trợ phát triển GD cho những hộ gia đình nghèo.
Đến những năm 1980 và 1990, những tiêu chuẩn và vai trò của nhà TVHĐ được làm rõ trong những văn bản pháp lý liên quan. Năm 1997, Khung chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tham vấn học đường [94] ra đời và kể từ đó, ngành TVHĐ được xem là đã hoàn thiện. Hiện nay, Hiệp hội các nhà tham vấn học đường Hoa Kỳ ASCA đã trở thành mô hình kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lý học đường của phần lớn các quốc gia trên thế giới. Sau đó, các nghiên cứu về lĩnh vực này đã xuất hiện ở một số quốc gia phát triển như: Canada, Ireland, Phần Lan, Nhật Bản,.
sau đó đến các nước đang phát triển và khu vực Đông Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Israel, Đài Loan,. Ở Việt Nam, khoảng hơn 10 năm trở lại đây, hàng loạt những vấn đề liên quan đến đạo đức, kỷ luật học đường, bạo lực học đường, áp lực thi cử, quan hệ thầy trò. xảy ra trong các trường học ở Việt Nam đã gióng lên những hồi chuông báo động, khiến những nhà khoa học và các cơ quan hữu trách phải để ý và nghĩ đến việc phải có hoạt động TV trong trường học. Một trong những người có công đầu trong việc hình thành và phát triển nghề TV (lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình) là cố bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện khi ông sáng lập ra Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em NT và xuất bản tờ "Thông tin khoa học tâm lý" vào năm 1984.
Sau đó, trên cơ sở sơ đồ hình thành phát triển nhân cách của ông, tác giả Đặng Quốc Bảo đã đề xuất một số vận dụng vào công tác TV trong nhà trường. Ông cho rằng khi chú ý đến HS, cần chú ý ở cả hai phương diện: năng lực trí tuệ và thái độ học tập, và ông chia đối tượng HS thành 4 nhóm, và tùy theo mỗi nhóm ông lại đề xuất những phương án dạy học thích hợp và đóng đúng vai trò cần thiết của người thầy [7]. 10 Sau đó, vấn đề TV trong nhà trường đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, nhiều công trình được công bố, nhiều hội thảo khoa học được tổ chức. Do mới được quan tâm gần đây, nên các nghiên cứu về lĩnh vực này chủ yếu mới chỉ tập trung vào việc làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản nhất của TV trong nhà trường, tìm hiểu nhu cầu TV và thực trạng TV.
Tác giả Trần Thị Minh Đức đã có hàng loạt công trình nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của TV trong nhà trường: “Quan niệm về TV tâm lý” [26]; “Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học TV” [27]; “Giáo trình tham vấn tâm lý” [28]; Bên cạnh đó cũng có nhiều công trình của các tác giả khác đã nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như: “Về TV tâm lý - hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông” [23] ; “Tham vấn nghề nghiệp: Khái niệm và các lí thuyết tiếp cận” [24]; “Tầm quan trọng của tham vấn” [29]; “Bàn về thuật ngữ: tư vấn, tham vấn và cố vấn” [54]. Đi vào tìm hiểu nhu cầu và thực trạng TV, chúng ta có thể kể đến các công trình “Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội” [58]; “Những khó khăn tâm lí và nhu cầu tham vấn của học sinh THPT” [48]; “Đào tạo chuyên gia tham vấn – trị liệu tâm lí, một nhu cầu cấp bách hiện nay” [34] ; “Thực trạng tham vấn ở Việt Nam: từ lý thuyết đến thực tế” [25]; “Thực trạng tham vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT ở Hà Nội” [66]; “Nhận thức về lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT” [59];. Nói chung, những công trình này phần lớn đều khẳng định nhu cầu được TV của HS là một nhu cầu có thực và rất cấp bách nhưng thực trạng và hiệu quả TV cho các em thì chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Như vậy, TVHĐ đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới.
Ban đầu hoạt động TVHĐ được thực hiện trong khuôn khổ các Chương trình, Dự án phát triển GD và do các Hiệp hội chuyên môn nghề nghiệp,. thực hiện với các nội dung về: tâm - sinh lý HS, các lý thuyết dạy và học trong nhà trường,. và sau này, được phát triển thành mô hình đơn vị độc lập, trực thuộc trường học, đối tượng TV và nội dung TV dần dần được mở rộng hơn. Nghiên cứu về năng lực tư vấn của giáo viên Trên thế giới, mặc dù ở các nước phát triển đã có đội ngũ cán bộ tham vấn học đường chuyên nghiệp từ lâu, nhưng hoạt động TV của người GV vẫn là nhu cầu 11 không thể phủ nhận.
Và để thực hiện được hoạt động TV, người GV cần phải có những NL nhất định. [103] , người GV hiệu quả phải có 6 NL cơ bản sau: NL đánh giá, NL lập kế hoạch, NL hướng dẫn, NL quản lí hành vi, NLTV, NL hành chính. [121], người GV cần có các NL cơ bản sau: NL chuyên môn, NL nghiên cứu, NL chương trình giảng dạy, NL học tập suốt đời, NL xã hội - văn hóa, NL cảm xúc, NL truyền thông và công nghệ thông tin (ICT), NLTV và NL môi trường. Những NL này ảnh hưởng đến giá trị, hành vi, giao tiếp, mục đích và hoạt động của GV trong trường học và cũng hỗ trợ GV nghiên cứu phát triển và chương trình giảng dạy chuyên nghiệp.
Trong nghiên cứu “Các đặc điểm của người GV hiệu quả” [131], các tác giả đến từ trường đại học Stanford đã cho rằng, ngoài khả năng tổ chức và thể hiện rõ ràng các chủ đề học tập; Có cách tiếp cận phân tích hoặc tổng hợp các lĩnh vực thảo luận; Có sự năng động và nhiệt tình trong công việc; người GV hiệu quả cần phải có khả năng tương tác với cá nhân HS và với nhóm HS, theo đó người GV phải công bằng với mọi HS trong đánh giá, và phải biết đưa ra cho HS những lời khuyên hay những sự hỗ trợ có giá trị, ngay cả trong cả những vấn đề không liên quan trực tiếp đến môn học. Trong công trình nghiên cứu “10 Qualities of an Effective Teacher” [132], Derrick Meador đã mô tả 10 phẩm chất của người GV hiệu quả. Và cả 10 phẩm chất này được tác giả phân tích đều hướng đến một điểm chung là người GV hiệu quả phải hướng đến HS, làm mọi điều để giúp HS học tốt hơn, dù điều đó có thể là khó khăn, thách thức đối với bản thân người GV đó. Điều quan trọng nhất là người GV hiệu quả phải xem HS như là một cá nhân cần được tôn trọng và cần được chia sẻ, giúp đỡ bất cứ lúc nào, về bất cứ vấn đề nào chứ không phải chỉ là những vấn đề liên quan đến môn học mà mình giảng dạy.
Trong bài báo “GVTV trong bối cảnh cải cách giáo dục” [120], Pugach, M. cho rằng người GV chuyên nghiệp phải biết kết hợp một cách xuất sắc việc vai trò giảng dạy chuyên môn cũng như vai trò của một người lớn là hướng dẫn, TV cho HS mọi vấn đề trong trường học.