CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu của thế giới Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm. Ý tưởng dạy học coi trọng người học, chú ý đến tự học đã có từ thời cổ đại, tùy theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay. Phương Tây cổ đại có phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530 - 475 TCN), Socrate (Hy Lạp, 469-390 TCN), Aristote (384-322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận.
Socrate gọi là “phép đỡ đẻ”, khẩu hiệu dạy học của ông là “Mục đích của giáo dục là làm cho con người nhận ra chính mình giữa đám đông” [37, tr. Khổng Tử (479 - 355 TCN) ở Phương Đông dạy theo đối tượng và kích thích suy nghĩ của HS. Khổng Tử không đặt câu hỏi cho học trò trước mà ngược lại, ông đòi hỏi học trò phải chủ động đặt câu hỏi trước “Nếu ai không tự đặt câu hỏi trước, Khổng Tử sẽ không dạy cho người ấy!” [37, tr. Ông còn nói: “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học” [37, tr.
Điều này rất phù hợp với nguyên tắc tạo động cơ, hứng thú học tập trong dạy học hiện đại. Đến thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu, dạy học lấy người học làm trung tâm đã trở thành một tư tưởng, có nhiều nhà giáo dục vĩ đại đã coi trọng tự học. Điển hình có các tác giả như Michel de Montaigne (1533 - 1592).Commesky (1592 - 1670) từng khẳng định: “không có khát vọng học tập thì không thể trở thành nhân tài” [9, tr. Trong cuốn sách “Phép giảng dạy vĩ đại”, ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt, giáo điều làm cho học sinh thụ động, đồng thời đề ra phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, HS không chỉ học ở thầy mà còn học ở bạn.
Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), đã phát triển tư tưởng ấy thêm một bước thành tư tưởng “Giáo dục tự do”, đề xướng “học 5 thuyết lấy đứa trẻ làm trung tâm”. Ông nói: “Đừng cho trẻ em khoa học, mà phải để trẻ tự phát minh”. Nhà giáo dục Mỹ John Dewey (1859 - 1952), chủ trương “Học bằng cách làm” (Learning by doing). Học trò nhất thiết phải chủ động và tích cực hoạt động “học bằng cách làm” với tinh thần tự học.
Makarenko (1888 - 1939), cho rằng việc làm đầu tiên của nhà giáo dục là: “Đem lại niềm vui cho con người bằng cách thức tỉnh ý thức của người đó, làm cho nó có thái độ đúng đắn hơn trong việc tổ chức đời sống của mình” [28, tr. Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ độc lập tìm tòi, thầy giáo là người tổ chức, người thiết kể, người cố vấn. Disteswerg (1790 - 1886) cho rằng: “Nhà giáo dục chân chính phải phát triển sức mạnh nội tại của HS bằng cách thức tỉnh, chứ không phải tích luỹ, nhồi nhét tài liệu, giáo khoa” [30, tr. Ở Liên Xô (cũ) vấn đề tự học được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và xuất bản sách.
Chẳng hạn tác giả Alêchxanđơrôvích Rubakin (1862 - 1946) với cuốn “Tự học như thế nào” rất coi trọng vấn đề tự học, theo ông:. để phân biệt được những vấn đề xảy ra xung quanh ta, thì lại cần đến kiến thức chung bằng con đường tự học [36, tr.Đixtécvéc (1970 - 1866), cũng cho rằng cần phải “biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” [28, tr. Trong tác phẩm “Nghiên cứu học tập như thế nào” của He - bơc, hoặc “Học tập hợp lý” của tác giả R. Retzke, các tác giả đều đề cập tới vấn đề tự học như thế nào cho hiệu quả, cách làm việc với sách, cách học tập hợp lý theo kế hoạch và chương trình riêng.
Các nhà nghiên cứu về giáo dục đào tạo A.Baranôv, Mongtaigne, Carolyn Hopper cũng đã đề ra việc thiết kế các bài tập nhận thức là các bài tập nêu vấn đề để người học thực hiện trong thời gian tự học. Những năm cuối thế kỷ XX giáo dục toàn cầu càng nhấn mạnh đến giáo dục lấy HS làm trung tâm, coi trọng tự học, tự đào tạo. Quan niệm mới về “học tập suốt đời - một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nền giáo dục Việt Nam đều có sự quan tâm đến việc tự học, với nhiều quan điểm đáng lưu ý.
Việc dạy - học được thực hiện theo cách giáo điều máy móc. Kĩ năng được hình thành chủ yếu là để học thuộc lòng, ghi nhớ lệ thuộc, thầy dạy gì, trò học đó. Thầy là thành trì luôn đúng, trò luôn là nô lệ của khối kiến thức một chiều. Thời thuộc Pháp, với chính sách ngu dân, việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ với phương pháp phát huy trí tuệ cho người bản xứ là việc không tưởng.
Do vậy, trước Cách Mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam có tới 90% dân số mù chữ. Từ những năm 1945 trở đi, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng phát triển giáo dục thường xuyên, các lớp bổ túc văn hoá, đại học tại chức, vừa làm vừa học,. mở ra chủ yếu dựa vào hình thức tự học là chính. Từ sau những năm 1970, với tinh thần “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, ở các trường Cao đẳng, Đại học đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc tăng cường các hoạt động tự học của HS.
Đặc biệt vào năm 1998, Trung tâm Tự học của GS Nguyễn Cảnh Toàn đã tổ chức thành công hội nghị toàn quốc với chủ đề “Tự học, tư đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam” mang lại nhiều ảnh hướng lớn cho nền giáo dục Việt Nam. Các tác giả đã nghiên cứu và xuất bản sách, tiêu biểu các cuốn: “Tự học, tư đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam” (1998); “Tôi tự học” (1975) của Nguyễn Duy Cần; “Muốn học giỏi” (1976) của Thiên Giang, Trần Kim Bảng; “Tự học để thành công” (1992) của Nguyễn Hiến Lê; “Rèn luyện công tác độc lập cho học sinh qua môn toán” (1967) của Phạm Gia Đức, Phạm Văn Hoàn; “Tập cho học sinh giỏi làm quen dần với nghiên cứu toán học” (1992), “Phương pháp giáo dục tích cực: bàn về học và nghiên cứu khoa học” (1996); “Quá trình dạy - tự học” (1998); “Học và dạy cách học”; “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” của Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường; "Giúp trẻ tự học nên người” của Nguyễn Kỳ và 7 Nguyễn Nghĩa Dân; “Tự học một chìa khóa vàng của giáo dục” (1998) của Phan Trọng Luận; “Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm” (1996), “Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực trong giáo dục” (1999) của Nguyễn Kỳ; “về định hướng đổi mới phương pháp dạy học” (1999) của Nguyễn Bá Kim; “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh” (2003) của Thái Duy Tuyên; Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học toán ở trường đại học và phổ thông” (2008) của Đào Tam, Lê Hiển Dương. Ngày nay, điều kiện tự học của người học ngàv một nâng cao. Nhiều trang web được thiết kế giúp người học tự học Toán trực tuyến, có thể dẫn chứng một số trang web như http://www.vn/; http://tailieu.vn/tag/tai- lieu;.
Các trang web này hỗ trợ cho người học tự học, tự nghiên cứu bằng cách đưa ra các bài giảng, các tài liệu cùng những bài tập để họ có thể tự kiểm tra, đánh giá được trình độ và kết quả tự học của bản thân. Hình thành thói quen và kỹ năng sử dụng internet hỗ trợ cho việc học sẽ giúp người học rất nhiều trong việc nâng cao năng lực tự học Toán. Đặc biệt trong giai đoạn cải cách giáo dục hiện nay, định hướng thay đổi chương trình, sách giáo khoa hướng vào việc phát triển năng lực của người học, một trong những năng lực được chú trọng phát triển đó là năng lực tự học.2 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm tự học Có nhiều khái niệm khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu: Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học.
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể. 8 - Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy”. - Theo tác giả Lê Khánh Bằng thì tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định. Đặng Vũ Hoạt và PGS.
Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “ Tự học là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân. - Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”. Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi v.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.