mở đầu, có diễn biến và có kết thúc". Từ đây chúng ta có thể hiểu tư duy được phân chia thành các khâu, các hoạt động, mà trong các khâu này, mỗi một hành động tư duy sẽ làm biến đổi mối quan hệ của chủ thể với khách thể, kích thích sự diễn biến của tình huống có vấn đề đều kích thích sự chuyển biến tiếp theo của quá trình tư duy. Tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề, từ sự ngạc nhiênhay một câu hỏi, từ sự thắc mắc hay từ một mâu thuẫn nào đó lôi cuốn cá nhân vào hoạt động tư duy. Những vấn đề đó được gọi là tình huống có vấn đề.
Để một vấn đề trở thành tình huống có vấn đề, đòi hỏi chủ thể phải có nhu cầu, có mong muốn giải quyết vấn đề đó. Mặt khác, chủ thể cũng phải có tri thức cần thiết có liên quan thì việc giải quyết vấn đề mới có thể diễn ra, quá trình tư duy mới được diễn ra. Quá trình tư duy được nhà tâm lý học Xô-viết K.Platonov phân chia thành các giai đoạn hết sức cụ thể, các giai đoạn này được diễn ra một cách hết sức nhanh, thậm chí như sự tự động hóa. Đặc biệt, trong các giai đoạn này, các thao tác tư duy đều được diễn ra một cách tự động.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các giai đoạn của quá trình tư duy (1). Kết thúc (I): Khi giả thuyết bị phủ định, có thể hình thành giải thuyết mới. (II): Khi hình thành giả thuyết mới vẫn bị phủ định, lúc này cần phải nhận thức lại vấn đề từ đầu.
Quá trình tư duy mới. (III): Khi có kết quả, cần phải được kiểm tra lại, đối chiếu lại. Giai đoạn nhận thức vấn đề: Khi gặp hoàn cảnh có vấn đề, chủ thể tư duy nhận thức nó và đặt ra vấn đề cần giải quyết, trên cơ sở đó đề ra nhiện vụ của quá trình tư duy. Giai đoạn xuất hiện các liên tưởng: Đây là giai đoạn huy động vốn tri thức, kinh nghiệm có liên quan đến vấn đề làm xuất hiện trong đầu chủ thể tư duy những mối liên tưởng xung quanh vấn đề cần giải quyết.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết: Trong giai đoạn này, chủ thể tư duy gạt bỏ những liên tưởng không cần thiết, đưa ra những phương án giải quyết có thể có đối với nhiệm vụ tư duy. Giai đoạn kiểm tra giả thuyết: Kết quả của việc kiểm tra sẽ dẫn đến sự khẳng định, phủ định hay chính xác hóa giả thuyết. Nếu tất cả các giả thuyết đều bị phủ định thì một quá trình tư duy mới lại bắt đầu từ đầu. Giai đoạn giải quyết nhiệm vụ: Khi giả thuyết (tức là cách giải quyết nhiệm vụ có thể có) đã được khẳng định thì nó sẽ được thực hiện, nghĩa là đi đến câu trả lời cho vấn đề được đặt ra.
Đặc điểm của tư duy Tính có vấn đề của tư duy: Tư duy chỉ nẩy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Đó là những tình huống mà ở đó nảy sinh những mục đích mới và những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ đã có trước đây trở nên không đủ (mặc dù là cần thiết), để đạt được mục đích đó. Nhưng muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân – nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã biết, cái gì chưa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm. Tính gián tiếp của tư duy:Tư duy phản ánh phản ánh sự vật hiện tượng một các gián tiếp bằng ngôn ngữ.
Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật, quy tắc, các sự kiện các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các từ. Mặt khác những phát minh, những kết quả tư duy của người khác, cũng như kinh nghiệm cá nhân của con người đều là những công cụ để con người tìm hiểu thế giới xung quanh để giải quyết những vấn đề mới đối với họ. Ngoài ra những công cụ do người tạo ra cũng giúp chúng ta hiểu biết được những hiện tượng có trong hiện thực mà không thể tri giác chúng một cách trực tiếp được.
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy:Tư duy có khả năng tách trừu tượng khỏi sự vật hiện tượng, những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể cá biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật hiện 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tượng rồi trên cơ sở đó mà khái quát các sự vật và hiện tượng riêng lẻ khác nhau, nhưng có những thuộc tính bản chất thành một nhóm, một loại phạm trù, nói cách khác tư duy mang tính chất trừu tượng hoá và khái quát hoá. Nhờ đặc điểm này mà con người có thể nhìn vào tương lai. Tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ:Tư duy của con người gắn liền vơí ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện. Tư duy của con người không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy.
Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau được. Tính chất lý tính của tư duy:Chỉ có tư duy mới giúp con người phản ánh được bản chất của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của chúng. Nhưng nói như vậy không phải tư duy phản ánh hoàn toàn đúng đắn bản chất sự vật hiện tượng. Tư duy có phản ánh đúng hay không còn phụ thuộc vào chiến thuật và phương pháp tư duy nữa.
Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Mối quan hệ này là quan hệ hai chiều: tư duy được tiến hành trên cơ sở những tài liệu nhận thức cảm tính đem lại, kết quả tư duy được kiểm tra bằng thực tiễn dưới hình thức trực quan, ngược lại tư duy và kết quả của nó có ảnh hưởng đến quá trình nhận thức cảm tính. Những đặc điểm trên đây cho thấy tư duy là sản phẩm của sự phát triển lịch sử – xã hội, mang bản chất xã hội. Các loại hình tư duy Ta có thể chia tư duy theo cách của Ba loại tư duy theo phân loại của Robert Sternberg. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của việc học tập là rèn luyện tư duy.
Khi yêu cầu bất kỳ một giáo viên nào liệt kê các mục tiêu giáo dục của một môn học, thế nào ta cũng bắt gặp một mục tiêu chung, đó là “giúp học sinh phát triển/ rèn luyện tư duy”. Tuy nhiên, dường như mỗi giáo viên lại có một cách hiểu riêng về thế nào là tư duy. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dee Fink đã chọn cách phân loại “3 ngôi” về tư duy của Robert Sternbergđể giải thích sự khác biệt trong các định nghĩa về tư duy của các tác giả khác nhau.
Theo Sternberg, tư duy bao gồm 3 loại chính: tư duy phê phán (critical thinking), tư duy sáng tạo (creative thinking), và tư duy thực tiễn (practical thinking). Sự khác biệt của 3 loại tư duy này được mô tả dưới đây. Theo quan điểm của Sternberg, tư duy phê phán, vốn là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong giáo dục đại học, bao gồm việc phân tích và phán đoán một vấn đề gì đó. Như vậy, để có tư duy phê phán thì điều cần thiết là phải có các chuẩn mực để phân tích và phán đoán.
Tư duy sáng tạo là loại tư duy được sử dụng khi ta tưởng tượng hoặc tạo ra một ý tưởng mới, một thiết kế mới, hay một sản phẩm mới; trong trường hợp này, tính "mới lạ" và "phù hợp với bối cảnh" là các yếu tố cực kỳ quan trọng. Loại tư duy thứ ba, tư duy thực tiễn, cần thiết khi ta học cách sử dụng hay áp dụng một điều gì, như khi đang cố gắng giải quyết một vấn đề hay đưa ra một quyết định. Sản phẩm của loại tư duy này là một giải pháp hoặc một quyết định, và như thế yếu tố quan trọng nhất của loại tư duy này là tính hiệu quả của quyết định hoặc giải pháp. Trong đào tạo quản trị kinh doanh, việc sử dụng phương pháp điển cứu (case studies) chính là nhằm để phát triển loại tư duy này, bởi vì thông qua các trường hợp điển hình sinh viên có thể tập tành đưa ra các quyết định và giải quyết những vấn đề thực tế.
Một số thao tác của tư duy Phân tích: là quá trình con người dùng trí óc phân chia đối tượng nhận thức thành những bộ phận, thành phần tách ra trong đối tượng nhận thức các yếu tố,các thuộc tính, các mối quan hệ nhất định, trong đó có thuộc tính quan trọng nhất, cơ bản nhất nổi lên hàng đầu cần phải quan tâm đối với người đang tư duy. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổng hợp: là quá trình con người dùng trí óc để hợp nhất các bộ phận, các thành phần đã tách ra ở trên nhờ sự phân tích thành một tổng thể để tư duy. So sánh: là quá trình con người dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật, hiện tượng. Thông qua quá trìnhso sánh, người ta rút ra từ trong mỗi sự vật, hiện tượng những cái chung và những cái khác biệt.
Trừu tượng hóa: là quá trình con người dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ chủ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố nào cần thiết, cơ bản để tư duy. Khái quát hóa: là quá trình con người dùng trí óc để thống nhất nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ nhất định thành một nhóm hay một loại. Thang tư duy Bloom Vào năm 1956, Benjamin Bloom [15] đã viết cuốn Phân loại tư duy theo những mục tiêu giáo dục: Lĩnh vực nhận thức, trong đó phần mô tả về tư duy gồm sáu mức độ. Nghiên cứu của ông đã được chấpnhận rộng rãi và được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực ngày nay.
Những quátrình nhận thức của ông được sắp xếp từ mức độ đơn giản nhất, gợi lại kiến thức, đến mức độphức tạp nhất, đánh giá giá trị. Thang tư duy Bloom 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vào năm 1999, Tiến sĩ Lorin Anderson cùng những đồng nghiệp của mình đã xuất bản phiên bản mới được cập nhật về Phân loại tư duy của Bloom. Ông lưu tâm tới những nhân tố ảnh hưởng tới việc dạy và học trong phạm vi rộng hơn.