CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VẼ NĂNG Lực VÀ DẠY HỌC TIẾP CẬN NĂNG Lực 1. Khái niệm năng lực Thuật ngữ năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”2, có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, “năng lực” có thể được dùng với những thuật ngữ như capability, ability, competency, capacity,. Khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nhất định.
Ví dụ: khả năng nói tiếng Anh, khả năng sử dụng một phần mềin máy tính,. Competency —Năng lực hành động: Khả năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động. Attribute: Phẩm chất cá nhân (quality of person) (cá tính hay nhân cách). Ví dụ: khả năng kiên trì theo đuổi và giải quyết vấn đề.
Hiện nay, khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Theo Từ điển Tiếng Việt [trang 639], “năng lực” được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” khi đề cập tới năng lực của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” khi đề cập tới năng lực của con người. - Theo Tâm li học: Năng lực là tô hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt. - Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [tập III, trang 41]: Năng lực là 2 Nguyễn Trọng Khanh (2011), Phát triển năng lực và tư duy kĩ thuật, N X B Đại học Sư phạm. đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo —tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó.
Rudich, năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. - Gerard và Roegiers3 (1993) đã định nghĩa năng lực là một tích họp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên. - Theo De Ketele (1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung ừong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra. Các định nghĩa ừên đều rất gần nhau, kết hợp cả ba định nghĩa ta thấy nêu bật ba thành phần của năng lực: nội dung, kĩ năng và tình huống: Năng lực = (những kĩ năng X những nội dung) X những tình huống = những mục tiêu X những tình huống Xavier Roegiers (1996) đã phối hợp những ưu điểm của các định nghĩa trên, khi cho rằng năng lực là sự tích họp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước, để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra.
Trong các định nghĩa trên, “loại tình huống” có nghĩa là, nếu muốn kiểm tra xem học sinh đã hình thành năng lực chưa, chúng ta sẽ không trình bày cho học sinh một tình huống y như tình huống đã gặp khi học, mà sẽ đưa ra một tình huống cùng loại. Đây là một điều quan trọng, vì nếu không thay đổi tình huống, chúng ta chỉ làm việc lặp lại kĩ năng ở học sinh. Theo John Erpenbeck, năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hoá qua chủ định. Coolahan (1996) đề nghị năng lực nên được coi như “khả năng nói chung dựa trên kiến thức, kinh nghiệm, giá trị, khuynh hướng mà một người đã phát triển thông qua cam kết với thực tiễn giáo dục”.
Romainville (1996), “năng lực” trong thuật ngữ tiếng Pháp đã 3 Xavier Roegiers (1996), Khoa sư phạm tích hợp hay ỉàm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, Người dịch: Đào Trọng Quang, Nguyễn N gọc Nhị, NXB Giáo dục. được sử dụng trong bối cảnh đào tạo nghề, đê cập đên khả năng thực hiẹn một nhiệm vụ cụ thể. Perrenoud (1997), việc xây dựng năng lực có nghĩa la tạo đieu kiện cho cá nhân huy động, áp dụng và tích hợp kiên thức thu được trong các tình huống phức tạp khác nhau và không thê đoán trước. Ong đưa ra định nghĩa năng lực là khả năng hoạt động hiệu quả trong một sô tình huông nhất định dựa trên kiến thức nhưng khả năng này không có giới hạn.
Theo Weitnert (2001), năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội,. và khả năng vận dụng các cách giải quyêt vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huông linh hoạt. Theo Bemd Meier và Nguyễn Văn Cường (2012)4, năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Như vậy, theo nghiên cứu của chúng tôi, năng lực là những khả năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhãn nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội,.
và khả năng vận dụng các cách giải quyết van đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp. Tiếp cận nội dung và tiếp cận năng lực về mặt giá trị 2. Tiếp cận nội dung Cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào việc lĩnh hội nội dung kiến thức từ hệ thống chương trình, sách giáo khoa, dựa trên kinh nghiệm truyền đạt của giáo viên băng các thủ thuật, các phương pháp đặc trưng- kết quả được thể hiện ở chỗ là trả lời được câu hỏi người học đã biết được cái gì mà ít chú ý đến việc vận dụng vào thực tiễn. Người học tiếp thu được càng nhiều kiến thức càng tốt, ít quan tâm tới việc tạo ra các sản phẩm từ cái đã học.
Điều này thể hiện rõ trong việc thiết kế chương trình, biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn và phương pháp dạy học. 4 Bemd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy. học hiện đại, N X B Đại hoc Sư phạm. Tiếp cận nàng lực Được thể hiện ở nhiều cách tiếp cận khác nhau: - Tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi - behavioural approach): Năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể (Ví dụ: “năng lực toán học” được hình thành qua việc học kiến thức cơ bản về toán và kĩ năng giải các bài tập toán.
Với cách hiểu này, việc đánh giá năng lực người học được dựa trên các kết quả có thể nhìn thấy (chủ yếu là điểm thi và kiểm ưa). - Tiếp cận tích hợp Theo Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang uẩn (1998), năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù họp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Weinert (2001) cho rằng “năng lực của học sinh là sự kết họp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề”. Theo ông, năng lực gồm: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Denyse Tremblay (2002), nhà Tâm lí học Pháp, dựa trên tiếp cận “học tập suốt đời”, quan niệm rằng “năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. Hovvard Gardner - giáo sư Tâm lí học của Đại học Harvard (Mỹ) đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích 7 lĩnh vực trí năng của con người, đó là: ngôn ngữ, logic - toán học, âm nhạc, không gian, thể hình, giao cảm và nội cảm. Đe giải quyết một vấn đề “có thực” trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt trí năng nào đó mà phải kết hợp các mặt trí năng liên quan với nhau. Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân.
Bằng phân tích này, H. Gardner thể hiện sự đồng tình với các tác giả trên rằng năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả của cá nhân và có thể đánh giá hoặc đo đạc được. OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã thực hiện một nghiên cứu bài bản về các năng lực cần đạt của học sinh phổ thông trong thời kì kinh tế tri thức và đã đưa ra khái niệm về năng lực như sau: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu câu phức hợp và thực hiẹn thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”. Theo Nguyễn Hồng Thuận, khi nghiên cứu vê cơ sở tâm lí và giao dục học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh phô thông, ông cho rằng: Năng lực cần đạt của học sinh phổ thông là tô hợp nhiêu khả năng và giá trị cơ bản được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kêt quả.
Hay cụ thể hơn, đó là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tô chức kiên thức, kĩ năng cơ bản với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân. nhăm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bôi cảnh nhât định. Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, năng lực là cái có thể, còn kĩ năng là các giá trị được biểu hiện ra ngoài của cá nhân trong bôi cảnh cụ thê thông qua giáo dục. Tuy nhiên, cho đến nay, người ta dùng chung và không phân biệt rạch ròi.
Theo các nhà giáo dục, có thể tường minh hoá năng lực thành hai bậc kĩ năng: - Kĩ năng bậc 1: Là khả năng thực hiện đúng hành động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động.