Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài được triển khai theo 3 chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn Chƣơng 2: Dạy Luyện từ và câu nhằm phát triển năng lực dùng từ và đặt câu cho học sinh lớp 4 Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Từ tiếng Việt “Từ của tiếng Việt là một hay một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định.16] Định nghĩa này cho ta thấy, so với từ của tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp,. từ của tiếng Việt có tính cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu. Mặt khác từ là một trong những đơn vị cơ bản nhất của hệ thống ngôn ngữ, nó luôn là tổng thể của hai mặt âm thanh và ý nghĩa.
Khi viết mặt âm thanh được thể hiện bằng chữ viết. Muốn thực hiện giao tiếp phải dùng từ để cấu tạo đơn vị lớn hơn: cụm từ, câu, văn bản. Các bình diện chủ yếu của từ gồm: a) Bình diện hình thức ngữ âm và cấu tạo Về hình thức: từ được tạo nên bởi các âm thanh kết hợp với nhau theo quy tắc ngữ âm. Mỗi từ đơn được cấu tạo gồm một âm tiết (tiếng): xe.
Từ phức gồm nhiều tiếng, các tiếng phối hợp nhau theo phương thức láy hoặc ghép: đo đỏ, xe đạp. Hình thức ngữ âm và cấu tạo trong từ tiếng Việt có tính cố định không biến đổi theo các quan hệ ngữ pháp khi tham gia cấu tạo câu. b) Bình diện nghĩa Mỗi từ tiếng Việt đều mang một ý nghĩa nhất định. Ý nghĩa của từ là phần phản ánh nội dung hiện thực vào nhận thức con người thông qua hình thức biểu thị (âm thanh ngôn ngữ).
Từ nào cũng có nghĩa ứng với các đối tượng của hiện thực mà con người nhận thức và dùng từ để gọi tên. Có những từ mang đầy đủ các thành phần nghĩa (nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái,…), có từ chỉ mang một hoặc một vài thành phần nghĩa. Nghĩa biểu vật: Đó là thành phần ý nghĩa liên quan đến các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Tuy nhiên, nó chỉ là hình ảnh chung chung (khái quát) về sự vật hay hiện tượng chứ không phải là bản thân một sự vật hay hiện tượng cụ thể 8 trong thực tế khách quan.
VD 1: Ý nghĩa biểu vật của từ (con) mèo trong tiếng Việt là hình ảnh về con mèo chung chung, bị loại bỏ những đặc điểm cụ thể như giới tính, màu lông, cân nặng, độ tuổi,… Nghĩa biểu niệm: Đó là thành phần ý nghĩa ứng với các khái niệm hay ý niệm về sự vật, hiện tượng trong nhận thức, tư duy của con người. VD 2: Từ “đầu” chỉ vị trí trên cùng hay trước hết của vật thể, của khoảng không gian hoặc thời gian. (đầu làng) Nghĩa biểu thái: Đó là thành phần ý nghĩa thể hiện cảm xúc tình cảm của con người. VD 3: Từ “biếu” vừa thể hiện hoạt động cho tặng vừa thể hiện tình cảm quý trọng.
Nghĩa ngữ pháp: Đó là thành phần ý nghĩa do vị trí và chức năng của từ trong câu quy định VD 4: Gà là một loại gia cầm. Đó là một con gà. Từ “gà” là danh từ nên nó có thể là chủ ngữ trong câu thứ nhất hay vị ngữ danh từ trong câu thứ hai. c) Bình diện ngữ pháp Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chỉ biểu lộ trong cụm từ và câu, khi từ kết hợp với từ đi trước và sau nó.
VD 5: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! Từ “Đi” kết hợp với phụ từ “đã” ở trước và từ “rồi” ở sau mang đặc điểm ngữ pháp của động từ. d) Bình diện phong cách Có những từ khi sử dụng mang sắc thái riêng như phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ hành chính,… cần sử dụng tuỳ theo môi trường giao tiếp. VD 6: Những từ như bãi nhiệm, đề bạt, bổ nhiệm, nghị quyết mang sắc thái phong cách ngôn ngữ hành chính không phù hợp trong phong cách ngôn ngữ sinh 9 hoạt. Những từ như luận án, tiểu luận, giáo trình.
thích hợp trong phong cách ngôn ngữ khoa học chứ không phù hợp với phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ các nhân vật giao tiếp phải dùng các phương tiện ngôn ngữ (từ) để tạo lập văn bản. Văn bản vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp. Khi thực hiện quá trình tạo lập văn bản (nói và viết) nhiều trường hợp người nói phát ra tự nhiên những từ không có sự chọn lựa chuẩn bị trước, nhưng khi hoạt động giao tiếp đòi hỏi sự chính xác thận trọng (giao tiếp nghi thức ngoại giao, soạn thảo văn bản viết…) thì phải huy động vốn từ ngữ, chọn lựa sử dụng để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.
Người lĩnh hội văn bản cũng đòi hỏi có NL sử dụng ngôn ngữ nhất định, căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp để hiểu văn bản. Nếu vốn hiểu biết về từ ít ỏi việc tiếp thu văn bản rất hạn chế (nhất là các thuật ngữ khoa học, từ Hán Việt, từ cổ). Câu tiếng Việt Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa câu xuất phát từ những quan điểm, mục đích nghiên cứu khác nhau. Một trong những cách định nghĩa phổ biến nhất là cách định nghĩa câu dựa vào các tiêu chí: nội dung (có tính hoàn chỉnh, trọn vẹn về nghĩa), cấu trúc (được cấu tạo theo mô hình nhất định với nòng cốt là cụm chủ vị), hình thức (có dấu hiệu là các ngữ khí từ, ngữ điệu kết thúc được thể hiện ở dấu ngắt câu).
Tuy đều đi theo hướng dựa vào các tiêu chí này nhưng một số tác giả chủ trương dựa đồng thời vào cả ba tiêu chí, có tác giả lại chỉ dựa vào một hoặc hai tiêu chí [14, tr. Không có ý định bàn sâu về cách định nghĩa câu, trong đề án này, chúng tôi chọn cách định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng theo đó, câu được định nghĩa như sau: “Câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang một thông báo tương đối hoàn chỉnh.363] Câu có các đặc trưng cơ bản sau: - Câu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Câu là đơn vị không có sẵn trong ngôn ngữ, là kết hợp tự do của đơn vị có sẵn (từ, cụm từ cố định) hoặc của những đơn vị không có sẵn (các kiểu cụm từ tự do). - Câu được cấu tạo theo quy tắc ngữ pháp và là chỉnh thể ngữ pháp độc lập.
Câu luôn có một nòng cốt, và có thể có thành phần phụ ngoài nòng cốt. Nòng cốt 10 của câu có thể cấu tạo là một từ, cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập, nhưng phổ biến nhất là cụm từ chủ vị. - Câu được đánh dấu bằng dấu kết thúc cuối câu (khi viết) và bằng ngữ điệu kết thúc câu (ngữ điệu kín) khi nói, khi đọc. - Câu chứa đựng một thông báo, thể hiện một ý tương đối trọn vẹn, hoặc phản ánh phần hiện thực, tư tưởng, thái độ, tình cảm.
của các nhân vật giao tiếp (người nói, người viết). Một đơn vị hay kết cấu ngữ pháp chỉ là câu khi có chức năng thông báo. Nói cách khác, những đơn vị nào mà kết cấu ngữ pháp không có chức năng thông báo thì chưa phải là câu. Có thể thấy câu là đơn vị cơ bản để xây dựng lời nói, giúp con người giao tiếp với nhau trong đời sống xã hội.
Câu giúp con người truyền đạt thông tin, ý kiến, quan điểm, cảm xúc của mình cho người khác. Vì vậy, khả năng tạo lập câu ảnh hưởng trực tiếp đến mục đích và hiệu quả giao tiếp. Năng lực Chương trình GDPT – Chương trình tổng thể (2018) đã nêu rõ: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. 37] Trong quá trình DH, NL được hiểu là: - NL là sự kết hợp tri thức, kĩ năng và thái độ - Mục tiêu bài học được cụ thể hóa thông qua các NL được hình thành - Nội dung kết hợp với hoạt động cơ bản nhằm hình thành nên NL trong mỗi một môn học Con người sinh ra có thể có những tố chất tiềm năng cho một loại hình hoạt động nào đó nhưng NL thì không có sẵn.
Con người hình thành và phát triển các NL trong quá trình sống, qua học tập và hoạt động, qua lao động nghề. Quá trình phát triển của một con người bắt đầu từ những hiểu biết, kỹ năng ban đầu thuở ấu thơ đến NL giải quyết các vấn đề trong cuộc sống để có thể hòa nhập xã hội. Nhưng để khẳng định bản thân và vươn tới một cuộc sống hạnh phúc thì cần biết phát triển những NL nghề 11 nghiệp phù hợp. Như vậy, cái đích cuối cùng của DH là NL.
Nếu chỉ tập trung vào trang bị tri thức thì dù có rất nhiều tri thức cũng chưa đủ để HS của chúng ta bước vào cuộc sống hiện đại một cách vững vàng. Nhận định này sẽ đưa chúng ta đến một sự thay đổi lớn trong DH cả về mục tiêu và phương thức tổ chức. Năng lực dùng từ và đặt câu NL dùng từ và đặt câu là khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả, bao gồm khả năng lựa chọn từ ngữ chính xác, sử dụng từ ngữ đa dạng, đặt câu đúng ngữ pháp và sử dụng các kiểu câu đa dạng. Việc lựa chọn từ ngữ phù hợp với ngữ cảnh, mục đích giao tiếp sẽ thể hiện rõ nội dung mà người nói/viết muốn truyền tải.
Hơn thế cần sử dụng từ ngữ đa dạng, tránh lặp từ để thể hiện ý tưởng rõ ràng, sinh động và tránh nhàm chán. Cấu trúc câu cần rõ ràng, mạch lạc, tuân thủ các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt đồng thời sử dụng nhiều kiểu câu khác nhau, bằng cách này, người nói/viết có thể truyền tải thông tin một cách rõ ràng và chính xác, giúp tăng tính thuyết phục và tạo ấn tượng tích cực với người nghe/đọc. NL dùng từ và đặt câu là một kỹ năng quan trọng, đặc biệt trong việc giao tiếp và tạo lập văn bản.