Chương 1: Cở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp cho học sinh trong dạy học Vật lý Chương 2: Thiết kế bài dạy học theo hướng phát triển năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp bài “khúc xạ ánh sáng” Vật lý lớp 11-THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆCPHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỀ XUẤT VÀ LỰA CHỌNGIẢI PHÁP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên thế giới Theo chương trình giáo dục phổ thông-Chương trình tổng thể [3] thì năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp được thể hiện ở HS THPT là một trong sáu năng lực thành phần của năng lực giải quyết vấn đề NLGQVĐ. Xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh đã được nhiêu nước quan tâm và nghiên cứu trong đó có Năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp trong nhóm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo giải quyết vấn đề. Vào đầu những năm 1970 và đầu những năm 1980 tại các trường đại học ở Minnesota của Mỹ nhiều giảng viên vật lý bắt đầu có mong muốn cải thiện việc giảng dạy của mình theo hướng phát triển năng lực GQVĐ cho sinh viên, với mong muốn là hiểu được những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong việc giải quyết các vấn đề vật lý và điều này thể hiện qua bài báo của nhóm tác giả McDermott & Redish, “Physics Education Research” 1999 [29]. Có thể nói, việc nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DH Vật lí đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu mới của nghiên cứu giáo dục Vật lí.
Và từ đây bắt đầu có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đến vấn đề phát triển NLGQVĐ cho HS trong DH vật lí như Thomas M. Ngoài ra, còn có nhiều tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này như Larkin, Hambrick, Engle,… Tại Việt Nam Ở Việt Nam, quan điểm DH theo hướng phát triển năng lực đã được Bộ Giáo dục triển khai vào đầu năm 2013-2014 ở gần 2000 trường tiểu học và các cấp học phổ thông coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của năm học này. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh đó, việc phát triển NLGQVĐ cho HS đang rất được chú trọng và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Một trong số đó là đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học chương Từ trường và Cảm ứng điện từ Vật lí 11- Thpt theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính” [11].
Dương Thị Hồng Hạnh với luận văn “ Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS thông qua dạy học chương Sự điện li- Hóa 11 nâng cao” của Lương Thị Lệ Hằng [10]. Tuy nhiên, có thể nói hiện nay vấn đề phát triển năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp cho HS trong dạy học Vật lí ở trường THPT, chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ. Cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp cho HS trong dạy học bài “Khúc xạ ánh sáng” Vật lí 11-THPT.2 NĂNG LỰC ĐỀ XUẤT VÀ LỰA CHỌN GIẢI PHÁP CỦA HỌC SINH THPT Theo chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể [3], yêu cầu cần đạt của HS THPT về cả phẩm chất và năng lực. Các năng lực cốt lõi bao gồm những năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Các năng lực chung bao gồm: *Năng lực tự chủ và tự học Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng nghề nghiệp; Tự học, tự hoàn thiện * Năng lực giao tiếp và hợp tác Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác; Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá hoạt động hợp tác; Hội nhập quốc tế. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; Tư duy độc lập. Từ những năng lực thành phần của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho thấy, phát triển năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp là một khâu rất quan trọng của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh. Theo định hướng nghiên cứu và khuôn khổ khoá luận, một số khái niệm cơ bản được đề cập trước khi tìm trình bày về các đặc điểm về năng lực của HS THPT.
Các khái niệm *Năng lực Khái niệm về năng lực đã được nhiều nhà nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu; trong đó, có Howard Gardner (1999), F.Weinert (2001),… Trong số đó, khái niệm của F.Weinert có vẻ như khá bao quát về năng lực mà tôi đã tham khảo nội dung so với các khái niệm đã được trình bày của các nhà nghiên cứu khác.Weinert thì Năng lực được hiểu như là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [26, tr. Với khái niệm trên nghĩa là: Khi đứng trước một vấn đề cần giải quyết HS có khả năng huy động những kiến thức,kĩ năng, kĩ xảo mà bản thân tích lũy được hoặc là sẵn có để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất. Bên cạnh, các thành quả nghiên cứu về năng lực mà các nhà nghiên cứu ngoài nước đã công bố thì tại Việt Nam cũng có một số khái niệm đã được nêu ra. Trong đó, tôi rất đồng tình với khái niệm của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [23, tr.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Tình huống có vấn đề “Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lý của chủ thể nhận thức khi vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức. Mâu thuẫn và khó khăn đó vượt ra khỏi giới hạn tri thức đã có của chủ thể, bao hàm một điều gì đó chưa biết, đòi hỏi sự tìm tòi tích cực, sáng tạo” [16] Tương tự, với khái niệm trên nghĩa là: Khi chủ thể gặp phải một mâu thuẫn trong nhận thức hay tham gia giải quyết một vấn đề mà gặp khó khăn, mâu thuẫn không thể giải quyết được ngay bằng tri thức và những gì sẵn có của bản thân, mà phải chủ động, tích cực tìm tòi, sáng tạo mới giải quyết được vấn đề đó. * Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực giải quyết vấn đề được Nguyễn Trọng Khanh trình bày như là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống có vấn đề mà ở đó, không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. * Năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp Như đã nêu ở phần đầu mục 1.2, năng lực đề xuất và lựa chọn giải pháp là một phần của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, nó được nảy sinh trong tình huống có vấn đề.
Người học đứng trước một vấn đề, nhất là trong các bài toán Vật lý, học sinh cần đưa ra các đề xuất, để chọn được hướng giải quyết vấn đề tốt nhất căn cứ vào mục tiêu đặt ra và các thông tin đã có cũng như thu thập được. Học sinh phân tích khả năng, xem xét điều kiện, đánh giá tính khả thi trên tất cả các giải pháp để lựa chọn ra một giải pháp tối ưu nhất. Đặc điểm năng lực của học sinh THPT - Năng lực chỉ có thể quan sát được qua hoạt động của cá nhân ở các tình huống nhất định. - Năng lực tồn tại dưới hai hình thức: Năng lực chung và năng lực chuyên môn[3].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất. - Năng lực được hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trường. Nhà trường được coi là môi trường chính thức giúp HS có được những năng lực cần thiết nhưng đó không phải là nơi duy nhất.
Những bối cảnh không gian không chính thức như: gia đình, cộng đồng, phương tiện thông tin đại chúng, tôn giáo và môi trường văn hóa… góp phần bổ sung và hoàn thiện năng lực cá nhân. - Năng lực và các thành phần của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ sơ đẳng, thụ động tới năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân. - Năng lực được hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời con người vì sự phát triển năng lực thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động cá nhân chứ không đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ. Do đó năng lực có thể bị yếu hoặc mất đi nếu chúng ta không tích cực rèn luyện tích cực và thường xuyên.
- Các thành tố của năng lực thường đa dạng vì chúng được quyết định tùy theo yêu cầu kinh tế xã hội và đặc điểm quốc gia, dân tộc, địa phương. Năng lực của HS ở quốc gia này có thể hoàn toàn khác với một HS ở quốc gia khác [5].