phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dƣỡng học sinh giỏi vật lí, bài tập vật lí và phƣơng pháp hƣớng dẫn giải bài tập Vật lí Trung học phổ thông Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống bài tập và hƣớng dẫn hoạt động giải bài tập vật lí chƣơng Từ trƣờng vật lí 11 nhằm bồi dƣỡng học sinh giỏi vật lí ở Trung học phổ thông Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 3 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÍ, BÀI TẬP VẬT LÍ VÀ PHƢƠNG PHÁP HƢỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Vấn đề bồi dƣỡng học sinh giỏi Vật lí 1.Tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí Từ xa xƣa ở các quốc gia trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đều coi trọng việc đào tạo nhân tài coi đó là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quốc gia. Từ thời vua Lê Thánh Tông đã coi “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cho đến thời Nguyễn Huệ ông cũng rất chú trọng việc bồi dƣỡng nhân tài ông đã nói: “Dựng nƣớc lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”.
Đảng và Nhà nƣớc ta cũng hết sức quan tâm đến công tác bồi dƣỡng HSG trong nghị quyết Trung ƣơng Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IV đã viết “không bao giờ hết, bƣớc vào giai đoạn này nhà trƣờng phải đào tạo những con ngƣời năng động, sáng tạo tiếp thu những kiến thức hiện đại ,tự tìm giải pháp cho các vấn đề do cuộc sống công nghiệp đặt ra”. Đặc biệt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế hiện nay thì mục tiêu quan trọng hàng đầu của ngành giáo dục là đào tạo nhân tài.Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục cũng nhƣ các trƣờng phổ thông là sớm phát hiện và bồi dƣỡng HSG để các em trở thành những ngƣời đủ đức, đủ tài để phục vụ cho đất nƣớc. Qua hiểu biết cũng nhƣ kinh nghiệm của bản thân tôi thấy: Nếu không làm tốt công tác tuyển chọn và bồi dƣỡng HSG thì đó là một sự lãng phí và việc phát hiện và bồi dƣỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ của ngƣời giáo viên nói chung và giáo viên Vật lí nói riêng, từ đó cung cấp cho các trƣờng đại học những sinh viên tài năng để đào tạo ra nguồn lao động chất lƣợng cao cho đất nƣớc. 4 z Nhƣ vậy nguồn nhân lực chất lƣợng cao phải đƣợc phát hiện và bồi dƣỡng từ rất sớm khi họ còn ngồi trên ghế nhà trƣờng phổ thông nhƣ Lê Nin đã từng nói “ Tài năng là một thứ hiếm hoi.
Cần thận trọng nâng đỡ nó một cách hệ thống”.Học sinh giỏi và học sinh giỏi Vật lí[11, tr. Một số quan điểm về học sinh giỏi Nƣớc Mỹ đến thế kỉ 19 cũng chú ý đến vấn đề HSG và tài năng năm 1968 tại trƣờng Public schools Lousis cho phép những HSG học chƣơng trình 6 năm trong vòng 4 năm sau đó lần lƣợt là các trƣờng Wobburt… và trong suốt thế kỉ XX , HSG đã trở thành 1 vấn đề của nƣớc Mỹ với hàng loạt các tở chức và trung tâm nghiên cứu bồi dƣỡng HSG ra đời. Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục HSG ra đời trong đó có 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc giáo dục HSG Ở Hoa kỳ định nghĩa: “HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo,thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và đạt thành tích xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết, khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó” (Georgia Law) Nhiều nƣớc quan niệm: “ HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết. Những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên”.
Học sinh giỏi Vật lí là HS có năng lực quan sát tốt, nắm vững bản chất của hiện tƣợng Vật lí mong muốn khám phá các hiện tƣợng Vật lí và vận dụng tối ƣu các kiến thức Vật lí để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới, bài tập mới có thể chƣa học hoặc thấy bao giờ. HSG phải là ngƣời tích cực, chủ động ,sáng tạo trong học tập. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên luôn 5 z phải quan tâm đến những đặc điểm này để lựa chọn phƣơng pháp dạy học cho phù hợp với HS. Các hình thức giáo dục học sịnh giỏi Tốc độ học của HSG nhanh hơn so với những học sinh khác vì vậy để phát triển tài năng của họ ta cần phải có một số hình thức học dành riêng cho HSG sau đây là một số hình thức : Lớp riêng biệt: HSG đƣợc rèn luyện trong 1 lớp hoặc trƣờng học riêng biệt gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu.
Phƣơng pháp Mông-te-xơ-ri: Trong 1 lớp HS chia thành 3 nhóm tuổi nhà trƣờng mang lại cho HS những cơ hội vƣợt lên so với các bạn cùng nhóm tuổi. Tăng gia tốc: Phƣơng pháp này đòi hỏi phải xây dựng đƣợc các mức độ , nó hết sức có lợi cho những HSG trong hình thức học tập với tốc độ cao Học tách rời: một phần thời gian theo học lớp HSG phần còn lại học theo lớp thƣờng Dạy ở nhà (home schooling): một nửa thời gian học tại nhà , học lớp , nhóm, học có cố vấn hoặc 1 thầy 1 trò Trƣờng mùa hè: bao gồm những course học đƣợc tổ chức vào mùa hè Sở thích riêng (hobby) Phần lớn các nƣớc đều chú trọng bồi dƣỡng HSG từ tiểu học , cách tổ chức DH cũng rất đa dạng. Mục tiêu dạy học sinh giỏi Mục tiêu chính của chƣơng trình dành cho HSG và HS tài năng nhìn chung các nƣớc đều thể hiện một số quan niệm sau: Bồi dƣỡng khả năng lao động , làm việc sáng tạo. Phát triển phƣơng pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của HS.
Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm. Phát triển các kĩ năng, phƣơng pháp và thái độ tự học suốt đời. 6 z Khuyến khích sự phát triển về lƣơng tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp xã hội. Thúc đẩy động cơ học tập.
Hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng nghiên cứu khoa học. Định hƣớng nghề nghiệp. Hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng giao tiếp, ứng xử với mọi tình huống xảy ra. Phát triển phẩm chất lãnh đạo.
Tạo điều kiện tốt nhất để phát triển khả năng , năng khiếu của HS. Những năng lực, phẩm chất cần có của học sịnh giỏi 1. Năng lực và phẩm chất cần có của học sinh giỏi nói chung Trong khoa học tâm lý ngƣời ta coi năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả. Đặc điểm của năng lực: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân: năng lực không phải chỉ là một thuộc tính, đặc điểm nào đó của cá nhân mà nó bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý.
Tuy nhiên, sự tổ hợp này không phải tất cả những thuộc tính tâm lý và sinh lý mà chỉ bao gồm những thuộc tính tƣơng ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và làm cho hoạt động đó đạt đƣợc kết quả. Tổ hợp các thuộc tính không phải là sự cộng gộp đơn thuần các thuộc tính đó mà là sự tƣơng tác lẫn nhau giữa các thuộc tính làm thành một hệ thống, một cấu trúc nhất định. Khi chúng ta tiến hành một hoạt động cần có những thuộc tính A, B, C… Cấu trúc này rất đa dạng và nếu thiếu một thuộc tính tâm lý thì thuộc tính khác sẽ bù trừ. Năng lực chỉ tồn trại trong một hoạt động.
Khi con ngƣời chƣa hoạt động thì năng lực vẫn còn tiềm ẩn. Năng lực chỉ có tính hiện thực khi cá nhân hoạt động và phát triển trong chính hoạt động ấy. 7 z Kết quả trong công việc thƣờng là thƣớc đo để đánh giá năng lực của cá nhân làm ra nó. Tuy nhiên, năng lực con ngƣời không phải là sinh ra đã có, nó không có sẵn mà nó đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp.
Cấu trúc của năng lực Cấu trúc năng lực gồm 3 thành tố: Thành tố 1: Hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo để tạo ra năng lực tƣơng ứng với hoạt động. Thành tố 2: Động cơ hứng thú, xu hƣớng hoạt động: Thành tố 3: Hành động: là điều kiện để hình thành năng lực Phân loại năng lực Dựa vào các tiêu chí khác nhau, chúng ta có thể phân chia thành các loại năng lực khác nhau: Dựa trên mức độ chuyên biệt của năng lực, phân thành hai loại sau: + Năng lực chung: Là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tƣ duy, tƣởng tƣợng, ngôn ngữ…) là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả. + Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao nhƣ năng lực toán học, văn học, hội họa, âm nhạc, thể thao… Hai loại năng lực này bổ sung hỗ trợ cho nhau. Dựa vào nguồn gốc phát sinh, phân chia năng lực thành hai loại: Năng lực tự nhiên: Là loại năng lực có nguồn gốc sinh vật và có quan hệ trực tiếp với tƣ chất.
Năng lực này đƣợc di truyền qua gen, ví dụ nhƣ năng lực phản ứng, thích ứng với điều kiện mới. Tuy nhiên, năng lực này có bị tác động, biến đổi của môi trƣờng và giáo dục. 8 z Năng lực xã hội:Hình thành và phát triển trong quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân nhƣ năng lực ngôn ngữ, năng lực lao động sáng tạo, năng lực giao tiếp v. Nhờ năng lực này thì chúng ta mới có thể hiểu và cải tạo đƣợc thế giới.