Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH MIỀN NÚI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực trên thế giới và ở Việt Nam Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực đã được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chư ơ ng trình này nhấ n mạ nh vai trò củ a ngư ờ i họ c vớ i tư cách chủ thể củ a quá trình nhậ n thứ c. Khác vớ i chư ơ ng trình đị nh hư ớ ng nộ i dung, chư ơ ng trình dạ y họ c đị nh hư ớ ng phát triể n năng lự c tậ p trung vào việ c mô tả chấ t lư ợ ng đầ u ra, có thể coi là ”sả n phẩ m cuố i cùng” củ a quá trình dạ y họ c. Việ c quả n lý chấ t lư ợ ng dạ y họ c chuyể n từ việ c điề u khiể n ”đầ u vào” sang điề u khiể n ”đầ u ra”, tứ c là kế t quả họ c tậ p củ a HS.
Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực [17]: Chương trình định hướng Chương trình định hướng phát nội dung triển năng lực Mục tiêu Mục tiêu dạy học được Kết quả học tập cần đạt được 7 giáo dục mô tả không chi tiết và không mô tả chi tiết và có thể quan sát, nhất thiết phải quan sát, đánh đánh giá được; thể hiện được mức giá được độ tiến bộ của HS một cách liên tục Nội Việc lựa chọn nội dung dựa Lựa chọn những nội dung nhằm dung vào các khoa học chuyên môn, đạt được kết quả đầu ra đã quy định, giáo dục không gắn với các tình huống gắn với các tình huống thực tiễn. Nội dung được quy Chương trình chỉ quy định những nội định chi tiết trong chương trình. dung chính, không quy định chi tiết. Phương GV là người truyền thụ tri - GV chủ yếu là người tổ chức, pháp thức, là trung tâm của quá hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh dạy học trình dạy học.
HS tiếp thu thụ hội tri thức. Chú trọng sự phát triển động những tri thức được quy khả năng giải quyết vấn đề, khả định sẵn. năng giao tiếp,…; - Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành Hình Chủ yếu dạy học lý Tổ chức hình thức học tập đa thức dạy thuyết trên lớp học dạng; chú ý các hoạt động xã hội, học ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa vào năng kết quả dựng chủ yếu dựa trên sự ghi lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong học tập nhớ và tái hiện nội dung đã quá trình học tập, chú trọng khả năng của HS học. vận dụng trong các tình huống thực 8 tiễn.
“Chư ơ ng trình dạ y họ c phát triể n năng lự c không quy đị nh nhữ ng nộ i dung dạ y họ c chi tiế t mà quy đị nh nhữ ng kế t quả đầ u ra mong muố n củ a quá trình giáo dụ c, trên cơ sở đó đư a ra nhữ ng hư ớ ng dẫ n chung về việ c lự a chọ n nộ i dung, phư ơ ng pháp, tổ chứ c và đánh giá kế t quả dạ y họ c nhằ m đả m bả o thự c hiệ n đư ợ c mụ c tiêu dạ y họ c tứ c là đạ t đư ợ c kế t quả đầ u ra mong muố n. Kế t quả họ c tậ p mong muố n đư ợ c mô tả chi tiế t và có thể quan sát, đánh giá đư ợ c. HS cầ n đạ t đư ợ c nhữ ng kế t quả yêu cầ u đã quy đị nh trong chư ơ ng trình. Việ c đư a ra các chuẩ n đào tạ o cũng là nhằ m đả m bả o quả n lý chấ t lư ợ ng giáo dụ c theo đị nh hư ớ ng kế t quả đầ u ra.
Ư u điể m củ a chư ơ ng trình dạ y họ c phát triể n năng lự c là tạ o điề u kiệ n quả n lý chấ t lư ợ ng theo kế t quả đầ u ra đã quy đị nh, nhấ n mạ nh năng lự c vậ n dụ ng củ a HS. Tuy nhiên nế u vậ n dụ ng mộ t cách thiệ n lệ ch, không chú ý đầ y đủ đế n nộ i dung dạ y họ c thì có thể dẫ n đế n các lỗ hổ ng tri thứ c cơ bả n và tính hệ thố ng củ a tri thứ c. Ngoài ra chấ t lư ợ ng 9 giáo dụ c không chỉ thể hiệ n ở kế t quả đầ u ra mà còn phụ thuộ c quá trình thự c hiệ n. Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó. Các năng lực còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ, và các vai trò vị trí công việc. Vì vậy, các năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc.
Từ hiểu biết về năng lực như vậy, ta có thể thấy các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình. Theo quan điể m củ a các nhà sư phạ m Đứ c, cấ u trúc chung củ a năng lự c hành độ ng đư ợ c mô tả là sự kế t hợ p củ a 4 năng lự c thành phầ n sau [9], [17]: Hình 1. Các thành phầ n cấ u trúc củ a năng lự c 10 Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau.
Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.[17] Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc OECD, người ta cũng sử dụng mô hình năng lực đơn giản hơn, phân chia năng lực thành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên môn. Ở Việt Nam từ năm 2008 trong lĩnh vực dạy nghề đã tiến hành nghiên cứu và ban hành các tiêu chuẩn năng lực nghề trên cơ sở phân tích nghề, từ đó đó thiết kế chương trình khung hoặc chương trình đào tạo chi tiết. Do những đặc tính và ưu điểm của tiếp cận dựa trên năng lực, các mô hình năng lực và những tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp được xác định và sử dụng như là những công cụ cho việc phát triển rất nhiều chương trình giáo dục, đào tạo và phát triển khác nhau trên toàn thế giới. Các nghiên cứu về dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” (Vật lí 12) Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về phương pháp giảng dạy Vật lí về chương “Sóng cơ và Sóng âm” (Vật lí 12) như:” Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương "Sóng cơ học" (Vật lí 12) nhằm phát huy tích cực, tự lực cho học sinh trường THPT dân tộc nội trú.” của Lương Văn Luyện (Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2014); “Phối hợp sử dụng thí nghiệm và phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học các kiến thức về “Sóng cơ” (Vật lý 12) theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thuộc Trung tâm giáo dục thường xuyên” của Mông Thanh Dũng (Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2014); “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập vật lí trong tiến trình dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức cho học sinh” của Đào Ngọc Dũng (Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2014); “Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học khi dạy các kiến thức về sóng âm (vật lý 12-NC) nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh THPT miền núi” của 11 Nguyễn Quang Anh (Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2011); “Thiết kế, chế tạo và sử dụng bộ thí nghiệm về giao thoa sóng nước nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học bài “Giao thoa sóng” - Vật lý 12 (nâng cao)” của Nguyễn Quang Linh (Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2009); “Sử dụng phần mềm dạy học hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức Vật lý của học sinh khi dạy một số nội dung về sóng cơ học trong chương trình Vật Lý lớp 12” của Lê Thị Việt Anh (Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2003).
Nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào về tổ chức dạy học chương “sóng cơ và sóng âm” (Vật lí 12) theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS trường THPT miền núi. Dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Trong tâm lí học có nhiều định nghĩa về năng lực: “Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” (John Erpenbeck, 1998).