Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong tổ chức dạy học chương các định luật bảo toàn vật lí 10

Luận văn thạc sĩ tập trung phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh qua dạy học chương các định luật bảo toàn vật lí 10.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2019

124
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học

Năng lực giải quyết vấn đề là một trong những năng lực quan trọng mà học sinh cần phát triển trong quá trình học tập. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh không chỉ giúp các em có khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn mà còn hình thành tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, như dạy học giải quyết vấn đề, là cần thiết để khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động. Theo đó, dạy học vật lý 10 cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhu cầu học tập của học sinh, từ đó phát huy tối đa khả năng của các em trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn.

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh là một yếu tố quan trọng trong giáo dục. Các phương pháp dạy học hiện đại, như dạy học nêu vấn đề, đã được áp dụng rộng rãi nhằm khuyến khích học sinh tự tìm tòi và khám phá kiến thức. Các nhà giáo dục như Howard Gardner đã nhấn mạnh rằng năng lực giải quyết vấn đề không chỉ dựa vào kiến thức mà còn cần sự kết hợp của nhiều loại trí tuệ khác nhau. Điều này cho thấy rằng việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng phương pháp này trong dạy học vật lý có thể giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc triển khai phương pháp này trong thực tế giảng dạy. Cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ các cơ sở giáo dục để nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực cho học sinh.

II. Thiết kế tiến trình dạy học chương Các định luật bảo toàn vật lý 10

Chương 'Các định luật bảo toàn' trong chương trình vật lý 10 có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Định luật bảo toàn không chỉ là những kiến thức lý thuyết mà còn là cơ sở để học sinh áp dụng vào thực tiễn. Việc thiết kế tiến trình dạy học cần chú trọng đến việc tạo ra các tình huống có vấn đề để học sinh có thể thực hành và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. Các bài học cần được xây dựng theo hướng khuyến khích học sinh tham gia tích cực, từ đó giúp các em phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo.

2.1. Mục tiêu dạy học chương Các định luật bảo toàn

Mục tiêu dạy học chương 'Các định luật bảo toàn' không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Học sinh cần hiểu rõ các định luật và có khả năng áp dụng chúng vào các tình huống thực tế. Việc thiết kế bài học cần chú trọng đến việc tạo ra các tình huống thực tiễn để học sinh có thể thực hành và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. Điều này sẽ giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo.

2.2. Thiết kế bài dạy có sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Thiết kế bài dạy cần sử dụng các phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập. Các bài học nên được xây dựng theo hướng tạo ra các tình huống có vấn đề, từ đó học sinh sẽ phải tìm cách giải quyết. Việc này không chỉ giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề mà còn tạo cơ hội cho các em rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp. Các giáo viên cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để hướng dẫn học sinh trong quá trình học tập, đảm bảo rằng các em có thể tiếp cận và giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả.

III. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp dạy học được áp dụng. Qua thực nghiệm, có thể thu thập dữ liệu về sự tiến bộ của học sinh trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Việc tổ chức thực nghiệm cần được thực hiện một cách khoa học, từ việc lựa chọn đối tượng tham gia đến việc thiết kế các bài học và phương pháp đánh giá. Kết quả thực nghiệm sẽ cung cấp thông tin quý giá để điều chỉnh và cải tiến phương pháp dạy học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

Mục đích của thực nghiệm sư phạm là đánh giá hiệu quả của các phương pháp dạy học trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Nhiệm vụ của thực nghiệm bao gồm việc thiết kế các bài học, tổ chức dạy học và thu thập dữ liệu về sự tiến bộ của học sinh. Qua đó, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để cải tiến phương pháp dạy học trong tương lai.

3.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm

Kết quả thực nghiệm sư phạm sẽ cho thấy mức độ phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh sau khi áp dụng các phương pháp dạy học mới. Các dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để đánh giá hiệu quả của từng phương pháp, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho việc cải tiến chương trình giảng dạy. Kết quả này không chỉ có giá trị trong việc nâng cao chất lượng dạy học mà còn góp phần vào việc phát triển năng lực cho học sinh trong bối cảnh giáo dục hiện đại.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về lí luận dạy học “ lấy người học làm trung tâm” để phát huy tính tích cực, thúc đẩy sự phát triển năng lực sáng tạo của người học. Nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại Khổng Tử (551 – 479 Tr CN) luôn đòi hỏi người học phải tìm suy nghĩ, tìm tòi trong quá trình học.

Ông cho rằng “ không tức giận muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho, vật có bốn góc bảo biết một góc mà không suy nghĩ ra ba góc kia thì không dạy nữa”. Montaigme (1533-1592) nhà quý tộc Pháp chuyên nghiên cứu lí luận đặc biệt về dạy học đã đề ra phương pháp giáo dục “ học qua hành”. Ông cho rằng muốn đạt được mục tiêu của học tập thì tốt nhất là bắt học sinh luôn “ hành” để “ học”, học qua hành. Vấn đề không phải là giảng một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt.

Trái lại là bắt trò luôn hoạt động, vận dụng khả năng phát hiện và GQVĐ của mình trong học tập[16]. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, vấn đề rèn luyện năng lực và năng lực sáng tạo cho HS trong nhà trường được đặc biệt quan tâm, điển hình là các tác giả I. Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, tiếp tục có những công trình nghiên cứu và bài viết về tư duy sáng tạo và phát triển sáng tạo của Robert Z.Strenberg và Wendy M. Cuốn “ Dạy học nêu vấn đề” của Lecne, Phạm Tất Đắc dịch, Nxb GD năm 1977 đã làm rõ bản chất của dạy học nêu vấn đề.

Ông coi đây là một phương pháp hiệu quả để kích thích hoạt động sáng tạo trong học tập của HS [16]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Howard Gardner, Giáo sư tâm lý học của đại học Harvard (Mỹ) (1996) đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích bảy mặt biểu hiện của trí tuệ con người: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thể hình, giao cảm và nội cảm. Ông khẳng định rằng: mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được thể hiện hoặc biểu lộ dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao. Để giải quyết một vấn đề “ có thực” trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau.

Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân, H.Gardner đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được [19]. Trong cuốn “ Các phương pháp dạy học hiệu quả” (năm 2011) của tác giả Robert JMarzano-Debra JPikering-Jane EPollock, người dịch Nguyễn Hồng Vân cho rằng: để phát huy cao độ khả năng học tập của HS thì nhân tố quan trọng là GV cần có tầm nhìn trong việc lựa chọn, áp dụng PPDH thích hợp. Tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp tạo và kiểm định các giải thuyết đề ra những giải pháp khác nhau nhằm giúp HS phát triển năng lực GQVĐ.Martin + Kniep, người dịch Lê Văn Canh khẳng định: muốn trở thành người GV giỏi cần phải có những đổi mới nhằm tập trung nhất vào các câu hỏi cốt lõi buộc HS tự khám phá vấn đề theo chiều sâu, từ đó giúp HS rèn luyện những kĩ năng cần thiết trong việc phát hiện và GQVĐ. Cuốn “ Đa trí tuệ trong lớp học” (năm 2011) của Thomas Amstrong, người dịch Lê Quang Long đưa ra tám loại trí tuệ tiềm ẩn trong con người nên trong quá trình dạy học GV cần phải sáng tạo để phát huy một cách tốt nhất những tiềm năng đa dạng của HS, khơi gợi sáng tạo, phát triển những năng lực chủ chốt như năng lực hợp tác, năng lực GQVĐ.

Như vậy các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng trong việc phát triển năng của HS trong đó có năng lực GQVĐ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Người đầu tiên đưa phương pháp DH GQVĐ vào Việt Nam là dịch giả Phạm Tất Đắc với cuốn sách “ Dạy học nêu vấn đề” của tác giả I.Lecne (Người Nga) do NXBGD xuất bản năm1977. Về sau, nhiều nhà khoa học nghiên cứu phương pháp này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim…Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu ở mức lý luận và có áp dụng cho môn Toán ở phổ thông và đại học. Gần đây, Nguyễn Kì đã đưa PPDH phát hiện và GQVĐ vào trường tiểu học ở một số môn như Toán, Tự nhiên - Xã hội, Đạo đức… Đối với môn Vật lí PPDH PH và GQVĐ cũng được các tác giả Nguyễn Dức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng đề cập đến trong cuốn sách: Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy Vật lí ở trường phổ thông (1999).

Theo các tác giả hoạt động nhận thức của HS trong học tập thực chất là hoạt động GQVĐ, vì vậy tiến trình hướng dẫn HS GQVĐ trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức trong dạy học Vật lí được các tác giả trình bày cụ thể. Phạm Hữu Tòng trong cuốn sách: Dạy học Vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học, đã trình bày chiến lược dạy học GQVĐ được thể hiện qua việc tổ chức định hướng hành động tìm tòi sáng tạo GQVĐ và tư duy khoa học của HS [18]. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung đi sâu vào PPDH GQVĐ, còn ít nghiên cứu về năng lực GQVĐ mặc dù PPDH GQVĐ là PPDH chủ yếu góp phần phát triển năng lực GQVĐ. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì cũng đã có nhiều nghiên cứu nói về việc dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ như: Đề tài “ Dạy học theo tiến trình giải quyết vấn đề một số kiến thức chương dòng điện trong các môi trường cho học sinh lớp 11” của tác giả Kiều Văn Hòa.

Đề tài “ Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10 THPT khi dạy chương “ Cân bằng của vật rắn” của tác giả Lê Hồng Tâm. Đề tài “ Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học một số kiến thức chương “ Mắt và các dụng cụ quang học” Vật lí 12 THPT của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến. Đề tài “ Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương “ Dao động và sóng điện từ” Vật lí 12 THPT của tác giả Nguyễn Đức Tình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Đề tài “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chương “Cảm ứng điện từ” vật lí 11 THPT” của tác giả Lê Đức Hậu.

Kế thừa các nghiên cứu của các tác giả và công trình trên chúng tôi sẽ tập trung làm rõ hơn cấu trúc của năng lực GQVĐ và việc sử dụng các PPDH nhằm phát triển năng lực GQVĐ. Vấn đề phát triển năng lực của học sinh trong dạy học. Năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “ competentia” nghĩa là “ gặp gỡ”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “ Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [17]. Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương [13]: Năng lực của HS được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học. Năng lực nói chung luôn được xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đó. Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương đã đề xuất bốn nhóm năng lực thể hiện khung năng lực cần đạt cho học sinh PT Việt Nam, đó là: Năng lực nhận thức: đòi hỏi học sinh phải có các khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy (độc lập, logic, trừu tượng…), tưởng tượng, suy luận, tổng hợp – khái quát hóa, phê phán – bình luận, từ đó có khả năng phát hiện vấn đề, khả năng tự học, tự trau dồi kiến thức trong suốt cuộc đời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Năng lực xã hội: đòi hỏi học sinh phải có những khả năng giao tiếp, thuyết trình, giải quyết các tình huống có vấn đề, vận hành được các cảm xúc, có khả năng thích ứng, khả năng cạnh tranh cũng như khả năng hợp tác… Năng lực thực hành: (hoạt động thực tiễn) đòi hỏi học sinh phải có các vận dụng tri thức (từ bài học cũng như từ thực tiễn), thực hành một cách linh hoạt (tích cực - chủ động), tự tin; có khả năng sử dụng các công cụ cần thiết, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo, có tính kiên trì… Năng lực cá nhân: được thể hiện qua khía cạnh thể chất, đòi hỏi trước hết học sinh có khả năng vận động linh hoạt, phải biết chơi thể thao, biết bảo vệ sức khỏe, có khả năng thích ứng với môi trường; tiếp đó là khía cạnh hoạt động cá nhân đa dạng khác nhau như khả năng lập kế hoạch, khả năng tự đánh giá, tự chịu trách nhiệm…[4, 5] Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan niệm: “ Năng lực là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia các hoạt động tích cực, có hiệu quả”. Nghĩa là năng lực là sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… để thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Ví dụ: năng lực giải quyết các bài toán trong chương các định luật bảo toàn có được khi cá nhân biết tổng hợp những kiến thức về chuyển động (chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều), định luật Newton 2, động lượng, công, công suất, động năng, thế năng, cơ năng… Kĩ năng vận dụng một cách linh hoạt các kiến thức đó vào từng trường hợp cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Cho Học Sinh Qua Dạy Học Chương Các Định Luật Bảo Toàn Vật Lý 10" tập trung vào việc nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua việc giảng dạy chương các định luật bảo toàn trong chương trình Vật lý lớp 10. Tài liệu này cung cấp các phương pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho giáo viên và nhà nghiên cứu giáo dục muốn cải thiện chất lượng dạy và học.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học STEM chương amin, amino axit, protein hóa học 12, nơi đề cập đến cách tiếp cận STEM trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giáo dục học xây dựng và tổ chức dạy học tích hợp chủ đề nước theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh lớp 10 cung cấp góc nhìn về dạy học tích hợp, một phương pháp hiệu quả để phát triển năng lực học sinh. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục thiết kế bài tập nghiên cứu trường hợp theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học phần sinh vật và môi trường sinh học 9 là tài liệu tham khảo tuyệt vời để hiểu rõ hơn về cách thiết kế bài tập nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề.