Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về lí luận dạy học “ lấy người học làm trung tâm” để phát huy tính tích cực, thúc đẩy sự phát triển năng lực sáng tạo của người học. Nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại Khổng Tử (551 – 479 Tr CN) luôn đòi hỏi người học phải tìm suy nghĩ, tìm tòi trong quá trình học.
Ông cho rằng “ không tức giận muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho, vật có bốn góc bảo biết một góc mà không suy nghĩ ra ba góc kia thì không dạy nữa”. Montaigme (1533-1592) nhà quý tộc Pháp chuyên nghiên cứu lí luận đặc biệt về dạy học đã đề ra phương pháp giáo dục “ học qua hành”. Ông cho rằng muốn đạt được mục tiêu của học tập thì tốt nhất là bắt học sinh luôn “ hành” để “ học”, học qua hành. Vấn đề không phải là giảng một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt.
Trái lại là bắt trò luôn hoạt động, vận dụng khả năng phát hiện và GQVĐ của mình trong học tập[16]. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, vấn đề rèn luyện năng lực và năng lực sáng tạo cho HS trong nhà trường được đặc biệt quan tâm, điển hình là các tác giả I. Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, tiếp tục có những công trình nghiên cứu và bài viết về tư duy sáng tạo và phát triển sáng tạo của Robert Z.Strenberg và Wendy M. Cuốn “ Dạy học nêu vấn đề” của Lecne, Phạm Tất Đắc dịch, Nxb GD năm 1977 đã làm rõ bản chất của dạy học nêu vấn đề.
Ông coi đây là một phương pháp hiệu quả để kích thích hoạt động sáng tạo trong học tập của HS [16]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Howard Gardner, Giáo sư tâm lý học của đại học Harvard (Mỹ) (1996) đã đề cập đến khái niệm năng lực qua việc phân tích bảy mặt biểu hiện của trí tuệ con người: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thể hình, giao cảm và nội cảm. Ông khẳng định rằng: mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được thể hiện hoặc biểu lộ dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao. Để giải quyết một vấn đề “ có thực” trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau.
Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân, H.Gardner đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được [19]. Trong cuốn “ Các phương pháp dạy học hiệu quả” (năm 2011) của tác giả Robert JMarzano-Debra JPikering-Jane EPollock, người dịch Nguyễn Hồng Vân cho rằng: để phát huy cao độ khả năng học tập của HS thì nhân tố quan trọng là GV cần có tầm nhìn trong việc lựa chọn, áp dụng PPDH thích hợp. Tác giả đặc biệt coi trọng phương pháp tạo và kiểm định các giải thuyết đề ra những giải pháp khác nhau nhằm giúp HS phát triển năng lực GQVĐ.Martin + Kniep, người dịch Lê Văn Canh khẳng định: muốn trở thành người GV giỏi cần phải có những đổi mới nhằm tập trung nhất vào các câu hỏi cốt lõi buộc HS tự khám phá vấn đề theo chiều sâu, từ đó giúp HS rèn luyện những kĩ năng cần thiết trong việc phát hiện và GQVĐ. Cuốn “ Đa trí tuệ trong lớp học” (năm 2011) của Thomas Amstrong, người dịch Lê Quang Long đưa ra tám loại trí tuệ tiềm ẩn trong con người nên trong quá trình dạy học GV cần phải sáng tạo để phát huy một cách tốt nhất những tiềm năng đa dạng của HS, khơi gợi sáng tạo, phát triển những năng lực chủ chốt như năng lực hợp tác, năng lực GQVĐ.
Như vậy các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng trong việc phát triển năng của HS trong đó có năng lực GQVĐ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Người đầu tiên đưa phương pháp DH GQVĐ vào Việt Nam là dịch giả Phạm Tất Đắc với cuốn sách “ Dạy học nêu vấn đề” của tác giả I.Lecne (Người Nga) do NXBGD xuất bản năm1977. Về sau, nhiều nhà khoa học nghiên cứu phương pháp này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim…Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu ở mức lý luận và có áp dụng cho môn Toán ở phổ thông và đại học. Gần đây, Nguyễn Kì đã đưa PPDH phát hiện và GQVĐ vào trường tiểu học ở một số môn như Toán, Tự nhiên - Xã hội, Đạo đức… Đối với môn Vật lí PPDH PH và GQVĐ cũng được các tác giả Nguyễn Dức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng đề cập đến trong cuốn sách: Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy Vật lí ở trường phổ thông (1999).
Theo các tác giả hoạt động nhận thức của HS trong học tập thực chất là hoạt động GQVĐ, vì vậy tiến trình hướng dẫn HS GQVĐ trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức trong dạy học Vật lí được các tác giả trình bày cụ thể. Phạm Hữu Tòng trong cuốn sách: Dạy học Vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học, đã trình bày chiến lược dạy học GQVĐ được thể hiện qua việc tổ chức định hướng hành động tìm tòi sáng tạo GQVĐ và tư duy khoa học của HS [18]. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung đi sâu vào PPDH GQVĐ, còn ít nghiên cứu về năng lực GQVĐ mặc dù PPDH GQVĐ là PPDH chủ yếu góp phần phát triển năng lực GQVĐ. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì cũng đã có nhiều nghiên cứu nói về việc dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ như: Đề tài “ Dạy học theo tiến trình giải quyết vấn đề một số kiến thức chương dòng điện trong các môi trường cho học sinh lớp 11” của tác giả Kiều Văn Hòa.
Đề tài “ Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10 THPT khi dạy chương “ Cân bằng của vật rắn” của tác giả Lê Hồng Tâm. Đề tài “ Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học một số kiến thức chương “ Mắt và các dụng cụ quang học” Vật lí 12 THPT của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến. Đề tài “ Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương “ Dao động và sóng điện từ” Vật lí 12 THPT của tác giả Nguyễn Đức Tình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Đề tài “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chương “Cảm ứng điện từ” vật lí 11 THPT” của tác giả Lê Đức Hậu.
Kế thừa các nghiên cứu của các tác giả và công trình trên chúng tôi sẽ tập trung làm rõ hơn cấu trúc của năng lực GQVĐ và việc sử dụng các PPDH nhằm phát triển năng lực GQVĐ. Vấn đề phát triển năng lực của học sinh trong dạy học. Năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc Latinh: “ competentia” nghĩa là “ gặp gỡ”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “ Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [17]. Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương [13]: Năng lực của HS được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học. Năng lực nói chung luôn được xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động hoặc quan hệ nhất định nào đó. Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương đã đề xuất bốn nhóm năng lực thể hiện khung năng lực cần đạt cho học sinh PT Việt Nam, đó là: Năng lực nhận thức: đòi hỏi học sinh phải có các khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy (độc lập, logic, trừu tượng…), tưởng tượng, suy luận, tổng hợp – khái quát hóa, phê phán – bình luận, từ đó có khả năng phát hiện vấn đề, khả năng tự học, tự trau dồi kiến thức trong suốt cuộc đời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Năng lực xã hội: đòi hỏi học sinh phải có những khả năng giao tiếp, thuyết trình, giải quyết các tình huống có vấn đề, vận hành được các cảm xúc, có khả năng thích ứng, khả năng cạnh tranh cũng như khả năng hợp tác… Năng lực thực hành: (hoạt động thực tiễn) đòi hỏi học sinh phải có các vận dụng tri thức (từ bài học cũng như từ thực tiễn), thực hành một cách linh hoạt (tích cực - chủ động), tự tin; có khả năng sử dụng các công cụ cần thiết, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo, có tính kiên trì… Năng lực cá nhân: được thể hiện qua khía cạnh thể chất, đòi hỏi trước hết học sinh có khả năng vận động linh hoạt, phải biết chơi thể thao, biết bảo vệ sức khỏe, có khả năng thích ứng với môi trường; tiếp đó là khía cạnh hoạt động cá nhân đa dạng khác nhau như khả năng lập kế hoạch, khả năng tự đánh giá, tự chịu trách nhiệm…[4, 5] Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan niệm: “ Năng lực là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia các hoạt động tích cực, có hiệu quả”. Nghĩa là năng lực là sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… để thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Ví dụ: năng lực giải quyết các bài toán trong chương các định luật bảo toàn có được khi cá nhân biết tổng hợp những kiến thức về chuyển động (chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều), định luật Newton 2, động lượng, công, công suất, động năng, thế năng, cơ năng… Kĩ năng vận dụng một cách linh hoạt các kiến thức đó vào từng trường hợp cụ thể.