mở đầu hình thành công nghiệp nông thôn. Còn “CNH, HĐH ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xă hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biên sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại toạ ra năng suất lao động xã hội cao” [21, tr. Thực chất quá trình CNH, HĐH là tạo ra các yếu tố cơ bản của lực lượng sẩn xuất cho CNXH. Bộ phận quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là con người.
Về mối quan hệ giữa người nông dân và người thợ thủ công thì Lênin đã nói rất rõ “so với những người tiểu sản xuất hàng hoá, thì người làm nghề thủ công gắn bó với ruộng đất mạnh hơn” [35, tr. Như vậy, LNTT chính là khởi đầu công nghiệp nông thôn, là một bộ phận công nghiệp và là một đối tượng của quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông thôn nói riêng. Vai trò của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Đại hội Đảng lần thứ tám đã đặc biệt coi trọng nhiệm vụ số một là CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, bởi vì xuất phát điểm đi lên CNXH ở nước ta từ một nước nông nghiệp. CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn phải bao gồm trong đó nhiệm vụ cơ bản: Phát triển các ngành nghề, LNTT và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp.
16 Tiếp tục phát triển tinh thần trên, nghị quyết Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ hơn để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn phải: “.Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân cư ở nông thôn. Nghị quyết Đại hội Đảng IX còn đặt ra vấn đề phát huy nội lực đất nước trong quá trình xây dựng đất nước. LNTT chính là nguồn lực còn bỏ ngỏ trong nước.
Do có tính độc đáo, nên sản phẩm của NTCTT được xếp vào nhóm hàng có năng lực cạnh tranh, là lợi thế của một nước nông nghiệp. Số liệu sau đây đã chứng minh lợi thế hơn hẳn của NTCTT. Bảng 3: so sánh giá trị thực thu của một số mặt hàng xuất khẩu Mặt hàng Nguyên phụ liệu nhập khẩu Giá trị thực thu Giày dép, dệt may Gần 80% 20% Điện tử, máy móc Hơn 90% 10% Thủ công mỹ nghệ Khoảng 3-5% 95% Nguồn: Chương trình chúng tôi và các bạn trên intenet - VTV2 đài truyền hình Việt Nam. Phát sóng 19h ngày 22/02/2003.
Phát lại 15h ngày 23/02/2003. Như vậy với 235 triệu USD xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ năm 2000 tương đương với 1140 triệu USD hàng dệt may, xấp xỉ 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặt khác vốn đầu tư cho hàng điện tử, dệt may lớn hơn rất nhiều lần so với đầu tư vào các ngành nghề truyền thống. 17 Như vậy, phát triển LNTT chính là phát huy lợi thế so sánh, phát huy nội lực đất nước trong quá trình CNH, HĐH.
Đảng ta xác định phát triển LNTT là một trong những nội dung của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Phát triển LNTT là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng bố trí lại lực lượng lao động phù hợp quá trình CNH, HĐH, hình thành cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ, tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Tất cả các quốc gia ở châu Á khi tiến hành CNH nông nghiệp nông thôn đều đặt ra nhiệm vụ phát triển LNTT. Kinh nghiệm về làng nghề truyền thống ở một số nƣớc châu Á và một số tỉnh ở nƣớc ta 1.
Ở một số nước châu Á + Nhật Bản: Tại Nhật Bản có hơn 867 nghề truyền thống bao gồm nhiều nghành nghề khác nhau như chế tác kim hoàn, sơn mài, chế biến lương thực phẩm. trong quá trình CNH đã hiện đại hoá kỹ thuật công nghệ và tác động của đời sống văn minh công nghiệp đã làm thay đổi một số thói quen trong sinh hoạt của người dân, vì thế một số nghề thủ công truyền thống đã bị mất đi (nghề sơn mài), còn một số nghề được duy trì phát triển. Nhật Bản đã chú trọng phát triển loại hình xí nghiệp công nghiệp vừa nhỏ ở các gia đình làm nghề thủ công nghiệp. Nghề rèn có lịch sử phát triển hơn 700 - 800 năm, nhà nước chú trọng khâu hiên đại hoá kỹ thuật, các tập đoàn sắt thép giúp đỡ khâu sản xuất phôi thép, vì vậy sản lượng nông cụ xuất khẩu ngày càng tăng và có uy tín trong khu vực.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở tỉnh OITA (miền Tây - Nam Nhật Bản) đã có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm" do đích thân tỉnh trưởng 18 phát động và tổ chức nhằm phát triển NTCTT. Kết quả tạo ra 270 loại sản phẩm, thu nhập 1,2 tỷ USD [19, tr. + Inđônêxia: Trong quá trình CNH, Chính phủ đã quan tâm chú trọng các ngành nghề truyền thống, hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn. Đề ra các chương trình phát triển ngành nghề truyền thống thông qua việc thực hiện các kế hoạch 5 năm: Lần thứ nhất: nhằm xây dựng xưởng sản xuất và các trung tâm bán các sản phẩm thủ công nghiệp.
Lần thứ hai: Thành lập các dự án phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Lần thứ ba: Hướng dẫn nghiệp vụ sản xuất kinh doanh cho các làng nghề, tăng cường mạng lưới dịch vụ cung cấp thiết bị vật tư. Cùng với chính sách chính phủ tổ chức ra hội đồng thủ công nghiệp quốc gia nhằm thúc đẩy các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển như tổ chức thi mẫu mă, hội chợ triển lãm sản phẩm. Thành lập trung tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp (BIPIK) để quản lý hỗ trợ nghề thủ công, kế hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp được lồng vào các chương trình tạo việc làm ở nông thôn.
Đối với các làng kinh tế kém phát triển mỗi làng luân phiên được vay 20 triệu Rupi tiền vốn cho các hộ nghèo vay vốn để phát triển nông nghiệp và sản xuất nghề thủ công truyền thống [19, tr. + Ấn Độ: Chính phủ đặc biệt quan tâm và ra nhiều biện pháp, chính sách để bảo tồn và phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ tạo ra ưu thế vươn ra thị trường thế giới. Chính phủ đã tổ chức các trung tâm phát triển công nghệ và thiết kế mẫu mã cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, như tại Niu-đê-li, Bom- bay nhằm nghiên cứu bảo tồn những nét đặc sắc của hàng thủ công mỹ nghệ. 19 Nhà nước quan tâm đến đội ngũ thợ cả lành nghề nhiều kinh nghiệm, họ được coi là vốn quí quốc gia và được ưu đãi về vật chất tinh thần, đặc biệt có những nghệ nhân được trợ cấp 500 Rupi/tháng.
Viện thủ công mỹ nghệ quốc gia là cơ quan nghiên cứu kinh tế kỹ thuật phục vụ yêu cầu phát triển ngành nghề, nghiên cứu thị trường, hội trợ triển lãm, khoa học công nghệ, mẫu mã. Ngoài ra, cả nước có 13 trung tâm đào tạo có nhiệm vụ nâng cao tay nghề cho thợ cả. Kết quả của việc đầu tư quan tâm tới nghề truyền thống đã đưa Ấn Độ trở thành một trong những quốc gia chế tác kim cương lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu 3 tỷ USD, chiếm 1/2 giá trị sản lượng kim cương trên thế giới [19, tr. + Pakistan: Nằm ở vùng Nam Á, trong quá trình CNH đã chú trọng kết hợp CNH đô thị với CNH nông nghiệp nông thôn.
Để phát triển các NTCTT và công nghiệp nhỏ ở nông thôn từ những năm 70, Chính phủ đã thực thi một số chính sách như cung cấp vốn tín dụng giúp đỡ kỹ thuật và tạo điều kiện tiếp thị, chú trọng đến các địa bàn các tỉnh có nền kinh tế chậm phát triển. Giảm thuế xuất nhập khẩu đối với một số nguyên liệu, vật tư phục vụ các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn [19, tr. + Thái Lan: Thái Lan đề ra chương trình: mỗi làng một sản phẩm, với mục tiêu nâng cao thu nhập, phát triển khả năng sáng tạo và nguồn nhân lực cộng đồng. Dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản: - Thúc đẩy sản phẩm nổi bật của địa phương.
- Tăng cường sức sáng tạo và tính tự lập của cộng đồng. - Phát triển nguồn nhân lực. Đầu tiên chương trình tuyên truyền nhằm làm cho cộng đồng hiểu biết về mục tiêu chương trình để họ lựa chọn quyết định sản phẩm nổi bật của địa 20 phương mình tham gia chương trình, tiếp theo dự tính kinh phí, tiến hành sản xuất và tiếp thị sản phẩm. Khi chương trình “mỗi làng một sản phẩm” ra đời, thì tháng 11/2001 Chính phủ lập ủy ban quốc gia nhằm ban hành chính sách, vạch kế hoạch cụ thể để thực hiện chương trình.
Chương trình là cơ hội để các LNTT hàng trăm năm khôi phục, các sản phẩm trứng muối, gạo rứt, dệt vải mắt mì. đã trở lại thị trường. Quá trình khôi phục sản xuất do nhân dân tự tiến hành tổ chức quản lý [65]. + Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào: Sản xuất nông nghiệp là một hoạt động kinh tế cơ bản nhất, để phát triển kinh tế phải tập trung mũi nhọn vào ngành công nghiệp chế biến nông sản - một bộ phận quan trọng của nghề thủ công truyền thống.
Muốn vậy phải có tổng hợp các giải pháp sau: - Phát triển toàn diện và đa dạng hoá hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, chế biến nông sản. Đối với nông sản chế biến để tiêu dùng trong nước thì lựa chọn công nghệ thích hợp, đối với nông sản xuất khẩu thì đi thẳng vào công nghệ cao. Trước mắt nên xây dựng qui mô vừa nhỏ, kết hợp công nghệ truyền thống với hiện đại. - Đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm kiểu cách mẫu mã sản phẩm.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ. Các doanh nghiệp đề xướng quyết định đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất còn nhà nước hỗ trợ việc mở rộng thị trường ở tầm quốc gia (thông qua bộ thương mại). Để hoạt động xuất nhập khẩu có hiệu quả cần phải xác định mặt hàng mũi nhọn, tập trung mặt hàng truyền thống [29].