phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm: 3 chương, 9 tiết. 8 CHƢƠNG 1 LÀNG NGHỀ VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG ĐỐI VỚI HẢI PHÒNG 1.Làng nghề và Các điều kiện phát triển làng nghề 1.Vai trò của làng nghề trong nền kinh tế quốc dân 1.Khái niệm về làng nghề Làng là khái niệm đã xuất hiện rất lâu đời và tồn tại cùng lịch sử phát triển của đất nước. Suốt nhiều thế kỷ qua, làng là đơn vị tụ cư cổ truyền lâu đời ở nông thôn Việt Nam và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước quân chủ tại Việt Nam. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “ Làng là khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến”.org: “ Làng một tập hợp những người có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng nhất định”.
Đặc biệt, làng có tính tự trị, khép kín, độc lập và là một vương quốc nhỏ trong vương quốc lớn nên mới có câu: “ Phép vua thua lệ làng” hay “ Hương đảng, tiểu triều đình”. Hiện nay, trong cách nói hàng ngày chúng ta vẫn gặp nhiều những câu nói có liên quan đến từ làng như luỹ tre làng, người cùng làng. Ngoài ra, làng còn là phạm trù văn hoá vì văn hoá đặc trưng của người Việt là văn hoá làng. Cũng theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “ Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động xã hội” như nghề dạy học, nghề nông, nghề mộc, nghề ngão, tay nghề, nhà nghề, lâu năm trong nghề.
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam. Việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được dân cư tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải vào vụ chính. Bởi lẽ kinh tế của người Việt trước đây chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước, mà nghề này chỉ bận rộn vào những ngày đầu vụ và cuối vụ, còn giữa vụ thì khá nhàn rỗi. Từ đó, 9 nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn, thoả mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày và tiến tới tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra đồ dùng bằng mây, tre, lụa…phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hoá trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn truớc đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, dần dần nhiều gia đình thấy có lợi cũng học làm theo, nghề từ đó lan rộng ra phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần nhau.
Và cũng chính nhờ vào những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hoá. Nghề nào đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần; ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần bị mai một. Từ đó, bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề nào đó. Nghĩa là mỗi làng có một sản phẩm đặc trưng riêng và sản phẩm đó thường gắn liền với tên gọi của làng như làng làm gốm (Gốm Bát Tràng), làng làm nón (nón làng chuông), làng làm lụa (lụa Vạn Phúc), làng đúc đồng (đồng Ngũ Xã)… Để hiểu được khái niệm làng nghề chúng ta cần phân tích thế nào là làng và nghề.
Làng là khái niệm xuất hiện và được chấp nhận từ rất lâu đời, tồn tại cùng lịch sử của đất nước. Khi đó, khái niệm làng khá phổ biến vì đó là đơn vị hành chính chủ yếu, đặc trưng nhất của nước ta. Chúng ta thường sử dụng các câu nói có trong dân gian như “ tình làng nghĩa xóm”, “sau luỹ tre làng”. Bên cạnh đó còn tồn tại khái niệm nghề.
Khi làng là đơn vị hành chính chủ yếu, đặc biệt trong thời kỳ phong kiến thì khái niệm nghề cũng tồn tại song song. Ngành nghề chủ yếu của nông dân thời kỳ này trồng trọt, chăn nuôi (kinh tế nông nghiệp nông thôn), bên cạnh đó ở các vùng nông thôn còn có thêm các hoạt động của một số nghề thủ công với mục đích ban đầu là sản xuất ra một số hàng gia dụng 10 tự cung, tự cấp dựa trên những nguồn nguyên nhiên liệu sẵn có. Tuy nhiên, dựa trên những cơ sở đó và trải qua một thời gian dài tích luỹ, phát triển, mục đích của các mặt hàng thủ công này vượt ra khỏi quy mô hộ gia đình, tham gia vào thị trường và phục vụ cho số đông hơn. Các sản phẩm làm ra đa dạng hơn, có tính chuyên môn hoá (một làng nổi tiếng về một mặt hàng thủ công).
Khi đó, các mặt hàng được đưa ra giao dịch, trao đổi và tiêu thụ trên thị trường và được dân làng phát triển đã trở thành một nghề trong xã hội, được xã hội chấp nhận. Do đó, khái niệm làng nghề dần dần được chấp nhận. Tuy nhiên, làng nghề được phân biệt với phường hội, vì phường hội tồn tại ở các đô thị. Còn làng nghề tồn tại ở nông thôn nơi trình độ và công nghệ làng nghề ở khu vực này vẫn mang nặng hoạt động thủ công và gắn với sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, làng nghề là sự kết hợp giữa khái niệm làng và nghề, trong làng có nghề và nghề thường gắn với mỗi làng. Chính sự phức tạp này nên hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về làng nghề. Dưới đây là một số khái niệm khác nhau về làng nghề được tổng hợp từ các nguồn tài liệu:[3]; [4]; [6]; [7]; [8]; [9]; [10]; và [13]: Khái niệm thứ nhất: Làng nghề là một thiết chế kinh tế – xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hoá. Khái niệm thứ hai: Làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc. Khái niệm thứ ba: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Nhưng với khái niệm 11 này thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều. Ví dụ như nghề gốm chỉ có ở Phù Lãng (Bắc Ninh), Bát Tràng (Hà Nội).
Đó là những làng thuần nhất không làm ruộng, còn đa số vừa làm nghề, vừa làm ruộng, ở đây thủ công nghiệp đối với họ chỉ là nghề phụ để tăng thu nhập mà thôi. Khái niệm thứ tƣ: Làng nghề là trung tâm Sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế TTCN có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế – văn hoá - xã hội một cách tích cực. Từ cách tiếp cận này ta có thể thấy khái niệm làng nghề liên quan đến các nghề thủ công cụ thể.
Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa. Qua một số khái niệm nói trên, ta có khái quát như sau: Làng nghề là một không gian kinh tế nhất định, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, chủ yếu liên quan tới các nghề thủ công và một số dịch vụ, trong đó lao động và thu nhập từ nghề này chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông cũng có Thông tư số 116/2006/TT BNN ngày 18/12/2006 đưa những tiêu chí cụ thể sau: - Số hộ làm nghề đó chiếm từ 25%; - Thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50%; - Gía trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của làng; - Thời gian phát triển ổn định từ 2 năm trở lên. Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế quốc dân 12 Trong những năm qua Việt Nam thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và được cụ thể hoá thêm một bước tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX: “ Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, tăng giá trị trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá.
Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và cư dân ở nông thôn.