Tổng quan nghiên cứu
Khu vực nông thôn Hải Phòng bước vào thời kỳ công nghiệp hóa với áp lực rất lớn về cơ cấu lao động và quỹ đất sản xuất khi có tới khoảng 60% dân số sinh sống tại các vùng ngoại thành, đồng thời bình quân mỗi năm thành phố chuyển đổi xấp xỉ 100 ha đất nông nghiệp sang phục vụ hạ tầng công nghiệp và đô thị hóa. Mặc dù tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hải Phòng trong giai đoạn 2000 - 2007 tăng trưởng ấn tượng với tốc độ bình quân 11,1%/năm, đạt quy mô 14.071,9 tỷ đồng và tăng gấp 1,75 lần so với năm 2000, nông nghiệp thuần túy chỉ còn chiếm 9,5% cơ cấu kinh tế. Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách: làm thế nào để giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững.
Trước yêu cầu đó, nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng vận hành của 31 làng nghề truyền thống và du nhập trên địa bàn 7 huyện ngoại thành cùng thị xã Đồ Sơn (bao gồm Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, An Lão, An Dương, Thủy Nguyên, Cát Hải). Mục tiêu trọng tâm là đánh giá toàn diện các nguồn lực tự nhiên, vốn, công nghệ và thị trường, từ đó xác định rõ lợi thế cạnh tranh của các làng nghề trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa hiệu quả kinh tế của khu vực tiểu thủ công nghiệp nông thôn, nơi đang thu hút hơn 24.000 lao động và tạo ra giá trị sản xuất hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học sắc bén, giúp chính quyền thành phố xây dựng các chính sách hỗ trợ hạ tầng, vốn tín dụng và thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm làng nghề Hải Phòng đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về phân công lao động xã hội và quy luật phát triển của lực lượng sản xuất. Theo đó, quá trình tách rời giữa tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp là tất yếu khách quan, hình thành các trung tâm sản xuất chuyên môn hóa tại nông thôn. Đồng thời, tác giả vận dụng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế để phân tích khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông - thủy sản trên thị trường toàn cầu.
Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp nông thôn, phân công lao động phi nông nghiệp và tiêu chí xác định làng nghề. Cụ thể, nghiên cứu bám sát các tiêu chí pháp lý theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: tỷ lệ số hộ làm nghề đạt tối thiểu từ 25% trở lên, tỷ trọng thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng, giá trị sản lượng của nghề đóng góp trên 50% tổng giá trị toàn địa bàn và thời gian hoạt động ổn định từ 2 năm trở lên.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng, bao gồm dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giai đoạn 2000 - 2007, cùng hệ thống chính sách theo Nghị quyết số 11-NQ/TU và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trên địa bàn 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng để khảo sát các nhóm ngành tiêu biểu: khảo sát 120 hộ làm nghề mây tre đan tại Hồng Thái và Đặng Cương, 44 hộ chế biến nông sản tại Tân Tiến, 160 cơ sở mộc tại Phục Lễ, tổ hợp 840 tàu cá tại Lập Lễ và hàng trăm hộ sản xuất rèn đúc tại Mỹ Đồng. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả 3 nhóm: làng nghề phát triển mạnh, làng nghề duy trì ổn định và làng nghề có nguy cơ mai một. Tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng, logic và hạch toán kinh tế hộ để đánh giá chuẩn xác hiệu quả kinh tế - xã hội của từng mô hình làng nghề.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, làng nghề tạo ra mức chênh lệch thu nhập vượt trội so với sản xuất thuần nông. Dữ liệu thực chứng tại làng nghề đúc Mỹ Đồng cho thấy thu nhập bình quân đầu người đạt 7,06 triệu đồng/người/năm, trong khi nhóm lao động nông nghiệp thuần túy tại cùng địa bàn chỉ đạt khoảng 1,5 triệu đồng/người/năm (thu nhập từ làng nghề cao gấp 4,7 lần). Giá trị sản xuất công nghiệp tại xã Mỹ Đồng năm 2006 đạt 148,29 tỷ đồng, chiếm hơn 91% tổng giá trị sản xuất toàn xã.
Thứ hai, các làng nghề thể hiện năng lực tạo giá trị hàng hóa và xuất khẩu ấn tượng. Điển hình như làng nghề chế biến cau khô Cao Nhân (huyện Thủy Nguyên) khai thác hơn 300 ha cau (chiếm 14% diện tích đất nông nghiệp toàn xã), mỗi năm xuất khẩu tiểu ngạch khoảng 2.000 tấn cau khô sang các thị trường Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, mang lại doanh thu từ 40 đến 45 tỷ đồng. Làng hoa Đằng Hải đạt doanh thu 25 tỷ đồng/năm, các làng sản xuất vật liệu xây dựng đóng góp 23 tỷ đồng/năm.
Thứ ba, cơ cấu lao động tại 31 làng nghề Hải Phòng có sự phân hóa rõ nét với 24.000 lao động thường xuyên, trong đó 56% là lao động chuyên nghiệp và 44% là lao động kiêm nhiệm. Sự kết hợp này giúp tận dụng tối đa thời gian nông nhàn của hơn 10 triệu lao động dư thừa tại khu vực đồng bằng sông Hồng, thực hiện hiệu quả phương châm chuyển dịch việc làm tại chỗ.
Thứ tư, hoạt động chế biến tại làng nghề nâng cao vượt bậc giá trị tài nguyên địa phương. Khảo sát chuỗi giá trị cho thấy: chế biến gạo thành bún, bánh đa ướt giúp giá trị sản phẩm tăng từ 1,2 đến 1,6 lần; sản xuất mây tre đan gia dụng nâng giá trị tre nứa lên 2,0 đến 2,5 lần; nguyên liệu cá chế biến thành nước mắm đặc sản tăng giá trị thương phẩm trên 1,5 lần.
Thảo luận kết quả
Sự tăng trưởng của các làng nghề bắt nguồn từ sự năng động của các hộ sản xuất trong việc nắm bắt nhu cầu thị trường và vận dụng cơ chế hỗ trợ theo Quyết định số 74/QĐ-UBND của thành phố. Tuy nhiên, khi so sánh với các địa phương lân cận, quy mô làng nghề Hải Phòng vẫn còn khá khiêm tốn. Tỉnh Bắc Ninh năm 2007 đạt giá trị sản xuất làng nghề 620 tỷ đồng, riêng làng gỗ Đồng Kỵ đạt trên 100 tỷ đồng với 65% xuất khẩu; tỉnh Hà Tây cũ có tới 1.160 làng có nghề, giải quyết việc làm cho 300.000 lao động. Trong khi đó, Hải Phòng mới có 31 làng nghề, giá trị sản xuất năm 2004 đạt 240,69 tỷ đồng và năm 2007 đạt khoảng 205 tỷ đồng.
Hạn chế lớn nhất của làng nghề Hải Phòng là tình trạng công nghệ thủ công lạc hậu, thiếu mặt bằng sản xuất tập trung gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cùng sự khan hiếm nguồn vốn khi đa số cơ sở chỉ có quy mô dưới 10 tỷ đồng. Về mặt hiển thị trực quan, toàn bộ bức tranh phân bố 31 làng nghề, tương quan tỷ trọng lao động chuyên - kiêm (56% so với 44%), cũng như khoảng cách doanh thu giữa các nhóm ngành có thể được mô hình hóa hiệu quả qua hệ thống biểu đồ tròn cơ cấu lao động, biểu đồ cột so sánh thu nhập và bảng ma trận SWOT đối chiếu năng lực cạnh tranh vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch không gian cụm công nghiệp làng nghề. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cùng Sở Xây dựng cần đẩy nhanh tiến độ quy hoạch các cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung tách rời khu dân cư theo lộ trình 2010 - 2020. Mục tiêu đặt ra là di dời 100% cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao (như rèn đúc Mỹ Đồng, sản xuất vật liệu xây dựng) vào các phân khu chuyên biệt có hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn.
Thứ hai, mở rộng cơ chế tài chính và quỹ bảo lãnh tín dụng. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hải Phòng phối hợp với Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa triển khai các gói vay vốn ưu đãi không cần thế chấp bằng bất động sản mà dựa trên phương án kinh doanh khả thi. Target metric là nâng tỷ lệ tiếp cận vốn vay chính thức của các hộ làng nghề lên trên 70% trước năm 2015, đáp ứng nhu cầu đầu tư chiều sâu đổi mới máy móc từ 5 đến 10 tỷ đồng mỗi cơ sở.
Thứ ba, xây dựng thương hiệu và đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế. Sở Công Thương chủ trì xây dựng chỉ dẫn địa lý, đăng ký nhãn hiệu tập thể và dán tem chất lượng cho các sản phẩm mũi nhọn như cau Cao Nhân, đúc gang Mỹ Đồng, chiếu cói Tiên Lãng. Phấn đấu đưa các mặt hàng thủ công mỹ nghệ thâm nhập sâu vào 7 thị trường trọng điểm bao gồm EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc và ASEAN thông qua các hội chợ thương mại quốc tế.
Thứ tư, chuẩn hóa chương trình đào tạo nguồn nhân lực và tôn vinh nghệ nhân. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện cơ chế hỗ trợ 100% kinh phí cho các nghệ nhân truyền nghề theo Nghị định số 104/2004/NĐ-CP. Mục tiêu đến năm 2015 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật tại các làng nghề từ dưới 20% lên trên 60%, kết hợp bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp tư nhân.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công Thương và Ủy ban nhân dân các huyện tại Hải Phòng. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách, hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề đến năm 2020.
Thứ hai, các chủ cơ sở sản xuất, chủ nhiệm hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân tại 31 làng nghề Hải Phòng. Tài liệu mang lại góc nhìn chiến lược về đổi mới công nghệ, tiếp cận vốn tín dụng và cách thức liên kết trở thành nhà cung ứng vệ tinh cho các ngành công nghiệp đóng tàu, may mặc lớn.
Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, sở hữu hệ thống dữ liệu hạch toán kinh tế hộ chi tiết tại các huyện ven biển miền Bắc.
Thứ tư, các tổ chức xúc tiến thương mại và hiệp hội du lịch Hải Phòng. Luận văn gợi mở các mô hình kết hợp tour du lịch sinh thái Đồ Sơn - Cát Bà với tham quan làng hoa Đằng Hải, mộc Phục Lễ nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Theo quy định pháp luật, làng nghề nông thôn tại Hải Phòng cần thỏa mãn những điều kiện bắt buộc nào?
Căn cứ theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, làng nghề phải đáp ứng đồng thời 4 tiêu chuẩn: tối thiểu 25% tổng số hộ tham gia sản xuất ngành nghề, thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập toàn làng, giá trị sản lượng của nghề đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và có thời gian phát triển liên tục từ 2 năm trở lên.
Mức thu nhập của lao động tại các làng nghề Hải Phòng có sự chênh lệch như thế nào so với lao động thuần nông?
Thu nhập tại các làng nghề cao gấp từ 3 đến 5 lần so với làm ruộng. Minh chứng cụ thể tại làng đúc Mỹ Đồng: thu nhập bình quân của người làm nghề đạt 7,06 triệu đồng/người/năm, trong khi lao động thuần nông chỉ đạt khoảng 1,5 triệu đồng. Người làm nghề chuyên nghiệp tại các làng chế biến lương thực đạt 550.000 đồng/tháng so với 350.000 đồng của hộ làm kiêm.
Quá trình gia nhập WTO mang lại những thách thức lớn nhất nào cho các làng nghề Hải Phòng?
Thách thức lớn nhất gồm 3 yếu tố: áp lực cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa ngoại nhập có giá thành thấp; công nghệ sản xuất còn lạc hậu với 78% thiết bị ở mức trung bình và 4% lạc hậu; các cơ sở sản xuất thiếu chiến lược xây dựng thương hiệu bài bản, dẫn đến việc xuất khẩu nông sản như cau khô Cao Nhân phụ thuộc chủ yếu vào đường tiểu ngạch.
Làng nghề Hải Phòng có thể liên kết vệ tinh với các ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phố ra sao?
Các cơ sở làng nghề có thể nhận gia công linh kiện phụ trợ, sản xuất đúc chi tiết cơ khí, gia công sản phẩm gỗ nội thất để cung ứng cho các nhà máy thuộc tổ hợp công nghiệp đóng tàu, cơ khí chế tạo, hoặc gia công bán thành phẩm cho ngành dệt may, da giầy vốn đang thu hút hơn 80.000 lao động trên địa bàn.
Những mô hình làng nghề nào tại Hải Phòng có tiềm năng phát triển gắn liền với hoạt động du lịch dịch vụ?
Nổi bật nhất là làng hoa Đằng Hải với doanh thu 25 tỷ đồng/năm, làng nghề điêu khắc gỗ Phục Lễ và các làng nghề nuôi trồng thủy sản Lập Lễ, Cát Hải. Những điểm đến này có thể tích hợp trực tiếp vào các tuyến du lịch di tích văn hóa Trạng Trình Vĩnh Bảo, khu nghỉ dưỡng Cát Bà và Đồ Sơn.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích sâu sắc bức tranh kinh tế - xã hội của 31 làng nghề Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2007, khẳng định vai trò trụ cột của tiểu thủ công nghiệp trong việc giải quyết việc làm cho 24.000 lao động và tạo giá trị sản xuất trên 200 tỷ đồng mỗi năm.
- Làm rõ tính tất yếu của việc chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, chứng minh hiệu quả gia tăng giá trị nguyên liệu địa phương từ 1,2 đến 3,0 lần qua các khâu tinh chế.
- Chỉ ra những điểm nghẽn cốt tử về công nghệ lạc hậu, thiếu mặt bằng xử lý ô nhiễm môi trường và hạn chế về thương hiệu xuất khẩu chính ngạch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao về quy hoạch cụm công nghiệp, chính sách tín dụng ưu đãi, xúc tiến thương mại toàn cầu và đào tạo nâng cao tay nghề nhân lực theo lộ trình 2010 - 2020.
- Đây là công trình nghiên cứu toàn diện, đóng góp tài liệu quý báu cho công tác quản lý kinh tế địa phương; các cấp chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các giải pháp quy hoạch và thương hiệu nhằm nâng tầm vị thế làng nghề Hải Phòng trên trường quốc tế.