phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh tế tƣ nhân. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân thành phố Đà Nẵng. Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển kinh tế tƣ nhân thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong mƣời năm trở lại đây, nhất là sau khi có Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa IX) ngày 18/3/2002 về việc “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tƣ nhân”, KTTN của Việt Nam đã có nhiều bứt phá rất đáng ghi nhận, khẳng định đƣợc vai trò động lực của mình trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong lần trở lại Việt Nam để tham dự Hội thảo công bố báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam hồi cuối tháng 11/2010, GS. Michael Porter đã nhấn mạnh rằng: "Kinh tế tư nhân phải là khu vực dẫn đầu trong phát triển nền kinh tế, Nhà nước phải nhìn nhận nó như là một tài sản cực kỳ quan trọng. Và nếu không dẫn đầu thì tối thiểu khu vực tư nhân cũng phải là người tham gia cực sâu trong quá trình phát triển kinh tế”. Tuy vậy, để doanh nghiệp tƣ nhân phát triển mạnh mẽ về chiều sâu, xứng đáng là một trong những động lực của nền kinh tế, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng vấn đề trọng tâm hơn cả là cơ chế chính sách cần tiếp tục đổi mới, cần nhắm vào 5 mục tiêu chính: tăng cƣờng cải cách, tạo yếu tố hài hòa trong nền kinh tế thị trƣờng; phát triển nền kinh tế đa thành phần; hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt; xây dựng bộ máy Nhà nƣớc lành mạnh, chống tham nhũng và quan liêu.
Luan van 5 Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng đến nay, vấn đề phát triển kinh tế tƣ nhân đã đƣợc nhiều cơ quan và cá nhân nghiên cứu, các công trình này thƣờng tập trung trình bày tính tất yếu của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, thực trạng và vai trò của kinh tế tƣ nhân và một số biện pháp của Đảng và Nhà nƣớc đối với các thành phần nghiên cứu này. Có thể kể ra một số các công trình nghiên cứu của một số tác giả nhƣ sau: GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2001), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. TS Tô Xuân Dân, T. Nghiêm Xuân Đạt, TS.
Vũ Trọng Lâm (2002), Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Nguyễn Thị Nhƣ Hà (2004), Các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.TS Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, NXB Thế giới, Hà Nội. Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả bằng cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày khái niệm, vai trò, vị trí và thực trạng của KTTN trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Các nhà nghiên cứu cũng đi sâu phân tích thực trạng của khu vực KTTN với những mặt mạnh và mặt yếu của thành phần kinh tế này.
Qua đó, các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp thiết thực trong việc định hƣớng và đề ra giải pháp phát triển KTTN. Tuy nhiên, các số liệu, luận chứng đƣa ra đƣợc thống kê nhiều năm trƣớc nên chƣa sát thực với tình hình hiện nay khi KTTN đã phát triển tƣơng đối mạnh và chính sách, pháp luật cũng có những thay đổi đáng kể. Nguyễn Thanh Tuyền, PGS. Nguyễn Quốc Tế, TS.
Lƣơng Minh Cừ (2003) trong cuốn sách: “Sở hữu tư nhân và Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh, đã tập hợp rất nhiều bài viết, nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế Luan van 6 về vấn đề phát triển kinh tế tƣ nhân. Công trình này nêu lên tính tất yếu khách quan của KTTN, nhấn mạnh vai trò của sở hữu tƣ nhân và KTTN ở Việt Nam. Nhóm các nhà nghiên cứu cũng xoáy sâu vào vấn đề Đảng viên làm KTTN hiện nay ở nƣớc ta.
Gần đây có công trình nghiên cứu do TS. Vũ Hùng Cƣờng làm chủ nhiệm đƣợc in thành sách với tựa đề: “Kinh tế tư nhân và vai trò động lực tăng trưởng” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành. Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp bộ về một số vấn đề cơ bản về phát triển khu vực tƣ nhân với tƣ cách là động lực cơ bản của mô hình tăng trƣởng kinh tế mới giai đoạn 2011-2020. Công trình nêu bật vai trò của KTTN và định hƣớng phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Ở thành phố Đà Nẵng, vấn đề nghiên cứu kinh tế tƣ nhân cũng đã đƣợc quan tâm, hiện nay có các công trình nghiên cứu sau: Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng, thực trạng và giải pháp của Thạc sĩ Trần Văn Năm (2000), Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng của Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2004), đề tài cấp thành phố của PGS. Lê Thế giới (2004), Cải thiện môi trường đầu tư để phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 6, Đại học Đà Nẵng. Luận văn Thạc sĩ Phát triển kinh tế tư nhân tại thành phố Đà Nẵng của Huỳnh Huy Hòa (2006). Và gần đây có đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2020” do Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng thực hiện, chủ nhiệm đề tài là TS.
Võ Thị Thúy Anh - Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng cũng có đề cập đến một số vấn đề phát triển KTTN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng. Tác giả Trần Thị Thuỳ Trang có đề tài Phát triển thương nghiệp tư nhân thành phố Đà Nẵng, trong đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nó, từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển thƣơng nghiệp tƣ nhân thành phố. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và đề tài trên đã cơ bản hệ Luan van 7 thống hóa các cơ sở lý luận và một số vấn đề thực tiễn về KTTN tại thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, các công trình này phần lớn tập trung nghiên cứu môi trƣờng đầu tƣ và vấn đề xây dựng tổ chức Đảng ở các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân.
Riêng tác giả Trần Văn Năm và Huỳnh Huy Hòa có luận án và luận văn về phát triển KTTN của Đà Nẵng, song số liệu và thông tin thu thập đã quá cũ (trƣớc năm 2006) và giải pháp định hƣớng đến năm 2010. Công trình nghiên cứu của TS. Lê Thế Giới đƣợc độc giả đánh giá cao về những phân tích sâu sắc đối với những thách thức, khó khăn và KTTN thành phố Đà Nẵng gặp phải. Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu cũng đƣa ra một số giải pháp thiết thực để phát triển KTTN của thành phố.
Kế thừa những thành quả của các tác giả trên, luận văn thạc sĩ của tôi sẽ đi sâu nghiên cứu, phân tích, làm rõ thực trạng tình hình, nhất là bối cảnh kinh tế suy giảm mạnh hiện nay và vấn đề tụt hạng PCI của Đà Nẵng; từ đó nêu lên các giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế tƣ nhân ở thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đây cũng chính là những điểm mà các công trình nghiên cứu trên hoặc chƣa nghiên cứu hoặc có nghiên cứu nhƣng số liệu và thông tin chƣa cập nhật theo sát tình hình phát triển kinh tế tƣ nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay. Luan van 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1.
Một số khái niệm về phát triển kinh tế tƣ nhân Cho đến nay, chƣa có một cơ quan chính trị hay một cơ quan chức năng nào đƣa ra khái niệm chính thống về kinh tế tƣ nhân. Xoay quanh thuật ngữ kinh tế này có rất nhiều quan niệm khác nhau. Ở nƣớc ta, trong quá khứ, do tƣ tƣởng nóng vội lên Chủ nghĩa xã hội, suốt một thời gian dài chúng ta đã sai lầm đánh đồng KTTN với Chủ nghĩa tƣ bản, còn kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể đƣợc xem là tƣơng đồng với Chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, khi đề cập đến KTTN, những mặt tồn tại, hạn chế đƣợc thƣờng xuyên nhắc đến, còn những mặt tiến bộ và sự cần thiết của nó trong sự phát triển lực lƣợng sản xuất xã hội lại bị xem nhẹ hoặc bỏ qua.
Từ nhận thức duy ý chí nhƣ vậy, cho nên trong tổ chức thực tiễn, chúng ta luôn tìm cách kìm hãm hoặc xoá bỏ KTTN. Sự kiện chính trị có ý nghĩa bƣớc ngoặt đối với sự phát triển KTTN ở nƣớc ta chính là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Lần đầu tiên, Đảng ta đề ra đƣờng lối đổi mới, khẳng định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trƣng của thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, Đại hội VI cũng chỉ mới thừa nhận sự cần thiết của kinh tế tƣ bản tƣ nhân và cho phép sản xuất, kinh doanh một số ngành, nghề và mặt hàng; có thể hiểu là KTTN mới đƣợc “mở đƣờng” chứ chƣa thực sự thông thoáng.
Phải đến tháng 3 năm 1989 vào Hội nghị TW lần thứ 6 (Đại hội VI), khái niệm “kinh tế tƣ nhân” mới đƣợc chính thức sử dụng. Nghị quyết nêu rõ vai trò của KTTN: “trong điều kiện của nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá đi lên chủ nghĩa xã Luan van 9 hội”. Trong các kỳ Đại hội tiếp theo, Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của KTTN đối với sự phát triển kinh tế nƣớc nhà. Đối với các nƣớc trên thế giới, trƣớc đây, thông thƣờng, ngƣời ta chia nền kinh tế của một quốc gia thành hai khu vực: kinh tế nhà nƣớc (các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nƣớc hoặc doanh nghiệp nhà nƣớc nắm hơn 50% cổ phần) và kinh tế tƣ nhân (những doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc) 15 .