Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về kinh tế tư nhân Có nhiều cách tiếp cận đối với kinh tế tư nhân, thông thường có 2 cách tiếp cận chủ yếu: Kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế và kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế.
Điểm tương đồng giữa hai cách tiếp cận là về bản chất, kinh tế tư nhân đại diện cho sở hữu tư nhân nhưng sẽ dẫn đến sự không thống nhất. Ở các quốc gia phát triển thì mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước thì đều được coi là khu vực kinh tế tư nhân, còn ở Việt Nam KTTN được hiểu như sau: Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh doanh. Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước.
[4] Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã đã xác định khu vực KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đó là “là một khu vực kinh tế, là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và việc phát triển kinh tế tư nhân được coi là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” [13]. 5 Trên cơ sở cách tiếp cận trên, có thể hiểu KTTN là khu vực kinh tế gắn liền với sở hữu tư nhân, bao gồm doanh nghiệp của tư nhân ở trong nước: DNTN, công ty TNHH (một thành viên; 2 thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh và hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tiểu chủ. Khái niệm về phát triển kinh tế tư nhân Phát triển KTTN là quá trình tăng lên về quy mô và có sự thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng lên cả về chất và lượng của khu vực kinh tế tư nhân.
Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư. Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền kinh tế của khu vực KTTN ngày càng tăng lên. Thay đổi về cơ cấu trong lao động, cơ cấu ngành nghề kinh doanh, cơ cấu vốn [8]. Sự cần thiết phải phát triển kinh tế tư nhân Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), Đảng ta khẳng định kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế, đồng thời khẳng định “các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế [8]. Đại hội XI của Đảng còn đề ra những chủ trương, chính sách nhằm: hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã xác định “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”; “Phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” [9]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) đã nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo đối với các thành phần kinh tế: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” [11].
6 Từ chủ trương của Đảng, có thể nói KTTN có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể: * Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế Hiện nay, trừ một số lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, còn lại hầu hết là do khu vực KTTN tham gia, thậm chí còn chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lương thực, thực phẩm, nuôi trồng thủy hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hàng hóa bán lẻ, chế biến, sành sứ, giày dép, dệt may,… , đã mang về hàng tỷ đô la ngoại tệ cho nền kinh tế. Chính sự phát triển phong phú đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh,… của khu vực KTTN đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp nhà nước, buộc khu vực KTNN phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh dịch vụ,… để tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Qua đó, khu vực KTTN đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nên kinh tế thị trường nói chung. *Kinh tế tư nhân góp phần khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương.
Khu vực KTTN có hiệu quả đầu tư cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo tính toán, để tạo 1 đơn vị giá trị GDP, các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chỉ cần 3,74 đơn vị đầu tư, trong khi ở khu vực nhà nước cần tới 8,28 đơn vị và doanh nghiệp khu vực FDI cần 4,99 đơn vị. Doanh thu trên tổng số tài sản khu vực tư nhân cũng cao hơn các khu vực khác, nếu với 1 tỉ đồng tài sản, doanh nghiệp tư nhân sẽ tạo ra được 1,18 tỉ đồng doanh thu, thì doanh nghiệp ở khu vực nhà nước chỉ tạo ra được 0,80 tỉ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 0,89 tỉ đồng. Chính vì thế, vai trò của KTTN trong nền kinh tế ngày càng trở nên quan trọng .Biểu hiện, sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP cả nước ngày một tăng.
7 Không những tăng về số lượng đóng góp mà KTTN còn gia tăng cả tỷ trọng đóng góp cho GDP. Nếu như năm 2005, KTTN chỉ đóng góp 45,6% GDP thì sang đến năm 2011 đã tăng lên mức hơn 48%. Như vậy, vai trò của KTTN ngày càng quan trọng trong nền KTQD. Ngoài ra, KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát.
* Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năng động Khu vực KTTN đã đóng góp quan trọng vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là trong những năm gần đây. Đặc biệt trong nông nghiệp, nó đã góp phần đáng kể trong trồng trọt, chăn nuôi và quan trọng hơn cả trong các ngành chế biến, xuất khẩu, nhờ đó kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch sản xuất hàng hóa, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hơn thế nữa, mục tiêu của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh trong tổng sản phẩm quốc nôi. Trong nền kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và khu vực tư nhân.
Một trong những đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân đối với phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ. Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Trong một nền kinh tế đang phát triển, nguồn vốn rất khan hiếm, và đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn khi các tổ chức tài chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư. Do đó, khả năng huy động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khu vực KTTN góp phần thu hút được nhiều lao động ở nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiêp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. 8 Khu vực KTTN tăng về số lượng và khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Nếu như trước đây, KTTN không được thừa nhận, bị coi là đối tượng của cách mạng XHCN, phải được cải tạo và xóa bỏ, với tư tưởng như thế trong giai đoạn đó KTTN vẫn chưa được phát triển mà hầu như còn bị vùi dập, kinh tế đất nước với sự hiện diện toàn bộ bởi kinh tế tập thể với cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Từ đường lối đổi mới (Đại hội VI của Đảng tháng12 năm 1986) khẳng định nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phàn kinh tế tồn tại lâu dài thì KTTN được phát triển rất mạnh mẽ, tạo cho cơ cấu kinh tê có xu hướng chuyển dịch cân bằng giữa KTTN và kinh tế tập thể.