Chương 1: Một số vấn đề chung về kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế thị trƣờng – cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Thực trạng kinh tế tƣ nhân trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế 6 tƣ nhân trên địa bàn Hà Nội 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề lý luận chung về kinh tế tƣ nhân 1. Khái niệm kinh tế tư nhân Tìm hiểu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê nin, thuật ngữ kinh tế tƣ nhân chƣa đƣợc sử dụng trong tác phẩm của Các Mác, Ph.Ăng ghen và Lênin, mặc dù các nhà kinh điển đã bàn và nghiên cứu nhiều về chế độ tƣ hữu, về kinh tế cá thể, kinh tế nông dân kiểu gia trƣởng, về sản xuất tƣ bản tƣ nhân… Về thực chất chúng ta có thể hiểu dù sử dụng ngôn ngữ khác nhau nhƣng đều có điểm chung là: Kinh tế tƣ nhân dựa trên quan hệ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất, là hoạt động kinh tế của những ngƣời kinh doanh riêng biệt. Kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta mới đƣợc phục hồi và phát triển từ năm 1979, đến năm 1986, đƣợc chính thức thừa nhận.
Những vấn đề về kinh tế tƣ nhân đã thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả. Về mặt cảm tính hầu nhƣ mọi ngƣời đã hiểu rõ về kinh tế tƣ nhân, nhƣng là vấn đề đang có nhiều sự bàn cãi, tranh luận, chƣa có sự thống nhất, chƣa có nội hàm xác định rõ ràng trong khái niệm kinh tế tƣ nhân. Ở nƣớc ta đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế tƣ nhân. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê chia kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế tƣ nhân) thành: Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tƣ nhân, hợp tác xã.
Theo quan niệm này, kinh tế tƣ nhân chƣa kể đến kinh tế cá thể tiểu thủ và không tách riêng kinh tế tƣ bản tƣ nhân, đồng thời xác định Hợp tác xã cũng thuộc kinh tế tƣ nhân. Trong “Niên giám Thống kê” lại thấy có sự tách biệt thành phần kinh tế 8 tƣ nhân và thành phần kinh tế cá thể. Trong giới nghiên cứu kinh tế cũng chƣa có sự thống nhất, một số ngƣ-ời quan niệm doanh nghiệp tƣ nhân chỉ là một bộ phận của kinh tế tƣ nhân. Nhƣng có tác giả lại đồng nhất kinh tế tƣ nhân với thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân.
Một số nhà kinh tế đồng nhất kinh tế tƣ nhân với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Theo cách quan niệm này, một doanh nghiệp (công ty) sẽ coi là ngoài quốc doanh nếu nhƣ tƣ nhân làm chủ hơn 50% cổ phiếu, cổ phần, vốn góp. Theo cách phân chia thành phần kinh tế trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam, hiện nay nền kinh tế quốc dân nƣớc ta đang tồn tại 6 thành phần kinh tế đó là: Kinh tế nhà nƣớc; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tƣ bản tƣ nhân; kinh tế tƣ bản nhà nƣớc; kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài [9]. Theo cách phân chia này kinh tế tƣ bản tƣ nhân và kinh tế cá thể, tiểu chủ thuộc về kinh tế tƣ nhân.
Tuy vậy, trên thực tế khu vực kinh tế có 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài cũng là kinh tế tƣ nhân nếu nó thuộc sở hữu tƣ nhân. Theo cách phân chia trong Văn kiện Nghị quyết TW5 của Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX, kinh tế tƣ nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân. Qua các quan niệm trên ta nhận thấy, hiện nay ở nƣớc ta chƣa có khái niệm với nội hàm rõ ràng, thống nhất về kinh tế tƣ nhân. Chính lý do đó dẫn đến số liệu thống kê, các số liệu báo cáo về kinh tế tƣ nhân có nhiều khác biệt và khó xử lý theo một hệ thống nhất quán qua các năm.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả lựa chọn cách phân loại theo Văn kiện Nghị quyết TW5 của Ban Chấp hành TW Đảng khoá IX. Theo quan niệm này, kinh tế tƣ nhân gồm hai thành phần kinh tế là thành phần kinh tế cá 9 thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân [10]. Hai thành phần kinh tế này có sự khác biệt nhất định. Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế tƣ hữu nhỏ mà thu nhập dựa hoàn toàn vào lao động và vốn của bản thân và gia đình họ [4, 17].
Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế tƣ hữu nhỏ nhƣng có thuê lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình họ [4, 17]. Nhƣ vậy kinh tế cá thể và tiểu chủ thuộc cùng một thành phần kinh tế, đều dựa trên cơ sở tƣ hữu nhỏ, thu nhập chủ yếu dựa vào lao động và vốn của chính bản thân và gia đình họ. Sự khác nhau là kinh tế tiểu chủ có sự thuê mƣớn lao động còn kinh tế cá thể không có sự thuê mƣớn lao động. Kinh tế tƣ bản tƣ nhân là thành phần kinh tế dựa trên sự chiếm hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất và bóc lột sức lao động của ngƣời làm thuê.
Đây là những đơn vị kinh tế dựa trên cở sở tƣ hữu lớn của một hoặc một số nhà tƣ bản góp lại để sản xuất kinh doanh và thuê mƣớn nhân công [4]. Giữa thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân có đặc điểm giống nhau là dựa trên cơ sở quan hệ tƣ hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất. Thành phần kinh tế tƣ bản tƣ nhân dựa trên sự tƣ hữu lớn về tƣ liệu sản xuất, thu nhập chủ yếu dựa vào sự bóc lột nhân công làm thuê và tƣ bản ứng trƣớc. Trong khi đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ là quan hệ tƣ hữu nhỏ về tƣ liệu sản xuất và không dựa trên cơ sở sự bóc lột vì thu nhập chủ yếu dựa vào lao động, cũng nhƣ vốn của bản thân và gia đình họ.
Tuy nhiên sự thuê mƣớn phải dựa trên cơ sở thoả thuận giữa các bên và quy định của Nhà nƣớc. 10 Ở đây chúng ta cần làm rõ vấn đề bóc lột của các nhà tƣ bản đối với ngƣời lao động làm thuê và chế độ bóc lột tƣ bản chủ nghĩa vì đây là vấn đề đang có nhiều tranh luận trên cả phƣơng diện lý luận và thực tế. Chế độ bóc lột tƣ bản chủ nghĩa tồn tại trong điều kiện sau: - Về mặt kinh tế: Giai cấp bóc lột (giai cấp Tƣ sản) nắm trong tay những tƣ liệu sản xuất chủ yếu, các nguồn lực khác của xã hội [47]. - Về mặt chính trị: Giai cấp bóc lột nắm lấy bộ máy thống trị là Nhà nƣớc để duy trì và củng cố, bảo vệ quan hệ thống trị đó [47].
Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay các điều kiện trên không tồn tại vì: - Quan hệ sản xuất bóc lột vẫn tồn tại nhƣng không phải là những quan hệ sản xuất chủ đạo, thống trị trong nền kinh tế. Các tƣ liệu sản xuất, các nguồn lực chủ yếu đều thuộc về nhân dân lao động, đƣợc Nhà nƣớc quản lý, khai thác và sử dụng phục vụ lợi ích của nhân dân. - Nền kinh tế thị trƣờng đƣợc Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa điều tiết và quản lý. Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân, phục vụ và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động.
Nƣớc ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, điều kiện xuất phát điểm thấp nên sự tồn tại đan xen giữa cái cũ và cái mới là tất yếu. Đảng và Nhà nƣớc thừa nhận sự đa dạng của các hình thức sở hữu, thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế nên cũng chấp nhận nhiều quan hệ sản xuất tƣơng ứng trong đó có quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế – xã hội ở nƣớc ta, xem xét sự bóc lột phải đặt trong điều kiện và những mối quan hệ d ƣới đây. 11 Thứ nhất: Xem xét quan hệ bóc lột giữa nhà tƣ bản và ngƣời lao động làm thuê trong điều kiện nƣớc ta có dân số trẻ, lực lƣợng lao động đông, đang thiếu việc làm, lao động dôi dƣ lớn.
Do đó, bất cứ ai bỏ vốn kinh doanh theo pháp luật, tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động đều đƣợc khuyến khích phát triển vì có lợi ích cho quốc kế dân sinh. Thứ hai: Xét xem quan hệ bóc lột phải đặt trong điều kiện tôn trọng và tuân thủ những quy định của pháp luật và sự quản lý của Nhà nƣớc Việt Nam. Thứ ba: Việt Nam đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa, cần tranh thủ và phát huy mọi nguồn lực đẩy nhanh tiến trình đó. Trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế nhà nƣ ớc và kinh tế tập thể đang gặp những khó khăn, chƣa thể đảm nhận giải quyết việc làm và đáp ứng mọi nhu cầu xã hội thì việc phát triển kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với quy luật phát triển và yêu cầu khách quan của nền kinh tế.
Tóm lại: Kinh tế tƣ nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân dựa trên quan hệ sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất, khác với sở hữu nhà nƣớc và sở hữu hỗn hợp. Về phƣơng diện lý luận thì kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân là hai thành phần kinh tế khác nhau về trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất và bản chất của quan hệ sản xuất. Trên thực tế việc phân định rõ đâu là kinh tế cá thể, tiểu chủ, đâu là kinh tế t ƣ bản tƣ nhân là việc không đơn giản. Điều này xuất phát từ sự vận động, phát triển, sự biến đổi không ngừng của hai thành phần kinh tế này và ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhƣ yếu tố thời đaị, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh… 1.