Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỦY SẢN TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. KINH TẾ THỦY SẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỚI PHÁT TRIỂN THỦY SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kinh tế Thủy sản - Khái niệm Ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các tiểu ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và Thủy sản. Trong quá trình phát triển, các tiểu ngành của nông nghiệp có mối quan hệ với nhau và có quan hệ với các ngành khác của nền kinh tế, song giữa chúng vẫn có tính độc lập tương đối, có sự khác biệt.
Căn cứ để phân biệt các tiểu ngành nói trên của nông nghiệp là sự khác biệt về đối tượng lao động, công cụ lao động, phương pháp công nghệ và sản phẩm sản xuất ra của mỗi tiểu ngành. Ngày nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về ngành thủy sản: theo từng mặt quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất hay đồng thời cả quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của ngành. Theo giác độ kinh tế chính trị cần nghiên cứu quan hệ sản xuất ngành thủy sản trong sự tác động qua lại của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Từ đó có thể hiểu kinh tế Thủy sản là ngành kinh tế đặc thù, được hình thành và phát triển trên cơ sở phân công lao động trong nông nghiệp.
Kinh tế Thủy sản là tổng thể quan hệ sản xuất của ngành thủy sản dựa trên trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất; biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu, hình thức tổ chức sản xuất, phân phối, trao đổi trong các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản cùng cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với ngành Thủy sản. Tùy theo mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước, sự phát triển của kinh tế thủy sản có những đặc trưng riêng về chế độ sở hữu, các quan hệ phân 6 phối, trao đổi sản phẩm, chế độ quản lý và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong ngành thủy sản quan hệ sở hữu rất đa dạng. từ đó các hình thức tổ chức sản xuất được hình thành và phát triển cũng rất đa dạng phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất của ngành.
Mỗi hình thức sở hữu, mỗi hình thức tổ chức sản xuất vừa có tính độc lập tương đối, lại vừa có sự tác động qua lại với nhau, nương tựa và liên kết với nhau trong quá trình phát triển. Mặc dù, nền tảng của kinh tế thủy sản nước ta hiện nay là chế độ sở hữu đa dạng gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân với nhiều thành phần kinh tế, nhưng trong đó công hữu là chủ yếu, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, định hướng phát triển cho các thành phần kinh tế khác, làm chỗ dựa cho các thành phần kinh tế khác phát huy hiệu quả cao hơn. - Đặc điểm của kinh tế Thủy sản: Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, kinh tế Thủy sản vừa mang đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp, vừa có tính chất đặc thù. Những đặc điểm chủ yếu của kinh tế Thủy sản bao gồm: Thứ nhất, đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước Các loài động thực vật sống trong môi trường mặt nước là đối tượng sản xuất của ngành Thủy sản.
Môi trường mặt nước cho sản xuất Thủy sản gồm có biển và các mặt nước trong nội địa. Đối tượng lao động của ngành Thủy sản có đặc điểm: Về trữ lượng, khó xác định một cách chính xác từ lượng Thủy sản có trong một ao hồ hay ngư trường. Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di cư từ vùng này đến vùng khác không phụ thuộc vào ranh giới hành chính. Hướng di chuyển của các luồng tôm cá chịu tác động của nhiều nhân tố như thời tiết, khí hậu, dòng chảy đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên.
Các loài sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình thủy văn. Trong 7 hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản, tính mùa vụ của từng loại thủy sản như: sinh sản theo mùa, di cư theo mùa phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, điều kiện thủy văn đã tạo nên tính phức tạp về mùa vụ cả về không gian và thời gian. Điều này đã tạo nên cơ sở khách quan của việc hình thành và phát triển nhiều ngành nghề khai thác khác nhau của ngư dân. Các sản phẩm Thủy sản sau khi thu hoạch hoặc đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều là những sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống.
Để tránh tổn thất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm; từ khai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ. Thứ hai, thủy vực và tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển…gọi chung là thủy vực được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt Thủy sản. Tương tự như ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu không thể thay thế của ngành Thủy sản. Không có thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản.
Tuy nhiên, thủy vực thường được sử dụng theo hướng đa mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng. Ví dụ các ao hồ chứa nước thường được sử dụng để nuôi cá kết hợp với trữ nước tưới phục vụ nông nghiệp; các con sông có thể phục vụ giao thông thủy, nuôi cá lồng bè ở ven sông, cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của cư dân…, do đó trong quy hoạch các loại hình thủy vực và định hướng sử dụng thủy vực cho ngành Thủy sản cần chú ý những thủy vực có mục đích sử dụng chính vào nuôi trồng Thủy sản, chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển, thường xuyên cải tạo thủy vực tăng nguồn dinh dưỡng cho các thủy sinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của thủy vực, sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng thủy vực là các ao, hồ, các thùng đấu… sang đất xây dựng cơ bản hay mục đích khác. 8 Thứ ba, ngành Thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao. Với tính cách là một ngành sản xuất vật chất, ngành Thủy sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản.
Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động sản xuất cụ thể nói trên chưa có sự tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau. Trong điều kiện như vậy, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít với chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng nhu cầu thị trường nhỏ hẹp. Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất Thủy sản được chuyên môn hóa ngàng càng cao. Các hoạt động chuyên môn hóa khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ Thủy sản có trình độ và quy mô phát triển tùy thuộc nhu cầu thị trường và mỗi hoạt động lại dựa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những ngành chuyên môn hóa hẹp có tính chất độc lập tương đối.
Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của hoạt động sản xuất có tính chất khác nhau như nói trên tạo thành cơ cấu sản xuất của ngành Thủy sản. Dưới tác động của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, hình thành nên cơ cấu kinh tế Thủy sản gồm: - Nuôi trồng Thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất nông nghiệp, thường được gọi là ngành Nuôi trồng Thủy sản, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng, xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và ngành khai thác. - Công nghiệp Thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất công nghiệp bao gồm khai thác và chế biến Thủy sản. Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác nguồn lợi Thủy sản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu.
9 Ngoài ra, dịch vụ Thủy sản: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, sản xuất bao bì, ngư cụ… Cơ cấu ngành Thủy sản Việt Nam có thể được minh họa đơn giản như sau: Ngành Nuôi trồng Thủy Ngành công nghiệp thủy sản sản Ngành Khai Các ngành phụ trợ và Ngành Chế biến thác phục vụ Khai thác các Nuôi thủy sản Chế biến đông Đóng sửa tàu thuyền sản phẩm nuôi nước ngọt lạnh Sản xuất sửa chữa ngư cụ trồng Nuôi trồng Dịch vụ vận chuyển Chế biến đồ hộp nước lợ Dịch vụ cảng, kho lạnh Chế biến hàng Sản xuất nước đá Nuôi trồng hải khô Sản xuất bao bì Đánh bắt hải sản sản Chế biến nước sản xuất thức ăn cho nuôi mắm trồng Thứ tư, sản xuất kinh doanh Thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao. Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến Thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu tương đối lớn. Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt động nuôi cá trong ao hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi lồng ở sông suối thì hầu hết các hoạt động đầu tư nuôi Thủy sản đều cần vốn lớn như: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng; đầu tư cải tạo đầm nuôi Thủy sản ở ven biển, cửa sông…Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền lên tới hàng tỷ đồng.