Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện thanh thủy phú thọ lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2013

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ussh đảng bộ huyện thanh thủy phú thọ lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Lịch Sử Đảng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

115
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH THỦY LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1999 – 2005

1.1. Yếu tố tác động chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Thanh Thủy để phát triển kinh tế nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên – xã hội

1.2. Địa lý hành chính Thanh Thủy

1.3. Địa hình

1.4. Khí hậu

1.5. Thủy văn sông ngòi

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 2006 – 2013

2.1. Yêu cầu mới và chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Thanh Thủy về phát triển kinh tế nông nghiệp. Yêu cầu mới của huyện Thanh Thủy

2.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Thanh Thủy về phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 2006 – 2013

2.3. Quá trình chỉ đạo và kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Thanh Thủy

2.3.1. Về phát triển trồng trọt

2.3.2. Về lâm nghiệp

2.3.3. Về phát triển ngành chăn nuôi – thủy sản

2.3.4. Ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp

2.3.5. Gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

3.1. Nhận xét chung

3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Tại Huyện Thanh Thủy

Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, là một trong những địa phương có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp mạnh mẽ. Từ năm 1999 đến 2013, huyện đã có những bước tiến đáng kể trong việc áp dụng các chính sách phát triển nông thôn. Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và phát triển nông sản tại địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đạt được sự phát triển bền vững.

1.1. Đặc Điểm Tự Nhiên Và Kinh Tế Của Huyện Thanh Thủy

Thanh Thủy có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với đất đai màu mỡ và khí hậu phù hợp. Huyện nằm ở lưỡng địa lý đa dạng, với nhiều loại hình sản xuất nông nghiệp như trồng trọt và chăn nuôi.

1.2. Vai Trò Của Chính Sách Phát Triển Nông Nghiệp

Chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng bộ huyện đã tạo ra những thay đổi tích cực trong sản xuất nông nghiệp. Các chương trình hỗ trợ nông dân và đầu tư vào cơ sở hạ tầng đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Tại Thanh Thủy

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, huyện Thanh Thủy vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển nông nghiệp. Tình trạng sản xuất manh mún, quy mô nhỏ và thiếu liên kết giữa các hộ nông dân là những vấn đề cần giải quyết. Hơn nữa, việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất vẫn còn hạn chế.

2.1. Tình Trạng Sản Xuất Manh Mún

Nhiều hộ nông dân vẫn sản xuất theo quy mô nhỏ lẻ, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng công nghệ và nâng cao năng suất. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường.

2.2. Thiếu Liên Kết Giữa Các Hộ Nông Dân

Sự thiếu liên kết giữa các hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làm giảm hiệu quả kinh tế. Việc hình thành các hợp tác xã và tổ chức sản xuất liên kết là cần thiết để nâng cao giá trị sản phẩm.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp

Để phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, huyện Thanh Thủy cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc đầu tư vào công nghệ, nâng cao trình độ cho nông dân và xây dựng các mô hình hợp tác xã là những giải pháp quan trọng.

3.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Mới

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân là cần thiết để thực hiện điều này.

3.2. Xây Dựng Mô Hình Hợp Tác Xã

Hình thành các hợp tác xã sẽ giúp nông dân liên kết với nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn tạo ra sức mạnh tập thể trong việc phát triển nông nghiệp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Huyện Thanh Thủy

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các chính sách phát triển nông nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích cho huyện Thanh Thủy. Năng suất nông sản tăng lên, đời sống của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và điều chỉnh các chính sách để đảm bảo sự phát triển bền vững.

4.1. Nâng Cao Năng Suất Nông Sản

Năng suất nông sản tại huyện đã tăng đáng kể nhờ vào việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới và chính sách hỗ trợ từ chính quyền. Điều này đã giúp cải thiện thu nhập cho nông dân.

4.2. Cải Thiện Đời Sống Người Dân

Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Các chương trình hỗ trợ đã giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo và ổn định cuộc sống.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Kinh Tế Nông Nghiệp Tại Thanh Thủy

Kinh tế nông nghiệp tại huyện Thanh Thủy đã có những bước phát triển đáng kể trong giai đoạn 1999-2013. Tuy nhiên, để đạt được sự phát triển bền vững, cần có những chiến lược dài hạn và sự đồng lòng từ cả chính quyền và người dân. Tương lai của kinh tế nông nghiệp tại huyện phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các hộ nông dân.

5.1. Chiến Lược Phát Triển Bền Vững

Cần xây dựng các chiến lược phát triển bền vững cho kinh tế nông nghiệp tại huyện Thanh Thủy. Điều này bao gồm việc bảo vệ môi trường và phát triển các sản phẩm nông nghiệp sạch.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Bên Liên Quan

Sự hợp tác giữa chính quyền, nông dân và các tổ chức xã hội là rất quan trọng để phát triển nông nghiệp bền vững. Các chương trình hợp tác sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Đảng bộ huyện Thanh Thủy lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2005. Chƣơng 2: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thanh Thủy lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2013. Chƣơng 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH THỦY LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1999 – 2005 1.

Yếu tố tác động chủ trƣơng của Đảng bộ huyện Thanh Thủy để phát triển kinh tế nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên – xã hội - Địa lý hành chính Thanh Thủy là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ. Toàn huyện có diện tích tự nhiên 124 km2, mật độ dân số 618 ngƣời / km2. Trải dài dọc theo tả ngạn sông Đà với chiều dài khoảng 33km.

Thanh Thủy có địa giới phía Bắc giáp huyện Tam Nông, phía Tây và phía Nam giáp huyện Thanh Sơn, sông Đà là ranh giới phía Đông với huyện Ba Vì thuộc Hà Nội, cách thủ đô hà nội 65 km về phía tây, cách Việt Trì trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh 50 km. Trung tâm huyện lỵ đóng tại xã La Phù. Năm 1964, đáp ứng nguyện vọng của chính quyền và nhân dân địa phƣơng. Bộ nội vụ nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra quyết định số 294/NV cho 9 xã đổi tên mới đó là xã Tân Tiến thành Yến Mao, xã Đề Thám đổi thành Trung Nghĩa, xã Lập Trƣờng đổi thành Trung Thịnh, xã đoàn kết đổi thành xã Hoàng Xá, xã Phú Cƣờng đổi thành Bảo Yên, xã La Thành đổi thành xã La Phù, xã Thành Công đổi thành xã Thạch Đồng, xã Vinh Quang đổi thành xã Đào Xá, còn các xã khac vẫn giữ nguyên tên cũ.

Ngày 26 tháng 1 năm 1968 Ủy ban thƣờng vụ quốc hội ra nghị quyết số 504 / QH hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Thanh Thủy thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Ngày 5 tháng 7 năm 1977, hội đồng chính phủ nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 178/ HDCP về việc hợp nhất các huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Theo đó các huyện trong tỉnh, trừ huyện Thanh Sơn đều hợp nhất.

Huyện Thanh Thủy hợp nhất với huyện Tam Nông thành huyện Tam Thanh. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 24 tháng 7 năm 1999 chính phủ ra nghị định số 59/ CP, Chia tách 2 huyện Phong Châu và Tam Thanh. Huyện Thanh Thủy đƣợc tái lập theo địa dƣ cũ. Ngày 1 – 9 – 1999 huyện Thanh Thủy đã đƣợc tái lập và giữ nguyên vị trí địa lý cho tới ngày nay.

- Địa hình Nhìn tổng thể địa hình của huyện Thanh Thủy tƣơng đối đa dạng, thể hiện những nét đặc trƣng của vùng bán sơn địa. Đất đai có núi đồi, ruộng đồng, sông ngòi, hồ, đầm. Cũng giống nhƣ các huyện khác của tỉnh Phú Thọ, Thanh Thủy thuộc một phần đất của quốc gia Văn Lang, nhà nƣớc đầu tiên của dân tộc Việt Nam do các vua Hùng xây dựng. Nằm ở lƣu vực sông Đà, bao đời đã cần mẫn bồi đắp cho Thanh Thủy những dải phù sa màu mỡ, ngày nay đã trở thành những cánh đồng ngô , lúa tốt tƣơi.

Phía Tây của huyện tiếp giáp với vùng rừng núi Thanh Sơn với những dãy núi đồi thoải dần từ Tây sang Đông, có nhiều quả đồi lô xô nhƣ hình bát úp. Đồi núi ở Thanh Thủy nhìn chung là thấp, độ cao từ 20 đến 40 mét so với mặt biển, độ dốc trung bình từ 15 đến 20 độ, số ít có độ dốc trên 25 độ, tập trung ở xã Yến Mao, Tu Vũ, Sơn Thủy, La Phù, Tân Phƣơng, Đào Xá…Đan xen giữa những quả đồi là cánh đồng chiêm trũng hoặc ao, đầm. Tiếp đến là một dải đồng bằng hẹp chạy dọc theo tả ngạn sông Đà. - Khí hậu Thanh Thủy là huyện nằm giữa khu vực đồng bằng và đồi núi, mang đặc điểm chung của khí hậu miền Trung du Bắc bộ thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lƣợng bức xạ cao, có nền nhiệt độ trung bình, lƣợng mƣa tập trung chủ yếu vào mùa mƣa, phân bố theo mùa rõ rệt.

Về mùa đông ở nhiều vùng trong huyện thƣờng có sƣơng mù, sƣơng muối vào sáng sớm thƣờng hanh khô. Theo phân vùng thì khí hậu tỉnh Phú Thọ thì huyện nằm trong trọn tiểu vùng khí hậu đồi trung du. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiệt độ Trung bình 22 độ c, lƣợng mƣa trung bình 1.700 mm/ năm, độ ẩm bình quân 85%. Nhìn chung Thanh Thủy có điều kiện tự nhiên tƣơng đối thuận lợi để phát triển nông nghiệp.

Về chế độ gió: Có hai loại gió chính là gió mùa Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10, gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Ngoài ra từ tháng 6 đến tháng 8 xen kẽ với gió mùa Đông Nam thƣờng xảy ra gió mùa Tây và Tây Nam, khô và nóng xen kẽ trong các mùa. - Thủy văn sông ngòi Chế độ thủy văn của Thanh thủy tƣơng đối phong phú với hệ thống sông, ngòi, hồ, ao, đầm khá phong phú. Sông Đà phát nguyên từ Trung Quốc, ở độ cao 5.000m, chảy theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, đến tỉnh Hòa Bình gặp mạch núi Ba vì chặn lại, dòng sông quặt lên phía bắc chảy dọc qua đất Thanh sơn xã Tinh Nhuệ, và xã Lƣơng Nha, 11 xã của Thanh Thủy, rồi qua địa phận Tam Nông sau đó đổ vào sông Hồng tại xã Hồng Đà đoạn chảy qua Thanh Thủy dài gần 33 km trên tổng số 41,5 km chảy qua địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Thời thuộc Pháp sông Đà còn đƣợc gọi là sông Đen Hắc Giang vì sông chảy qua những vùng đá xám, rừng cây rậm rạp nƣớc sông có màu đen nên đặt tên là nhƣ vậy, sông Đà có lƣu lƣợng dòng chảy rất lớn lúc cao nhất tới 16.200m khối / giây, trung bình tới 1.760m khối / giây, gấp hai lần sông Thao, gấp 1,5 lần sông Lô làm ảnh hƣởng rất lớn đến lƣu lƣợng sông Hồng. Vì thế việc trị thủy sông Hồng thực chất là trị thủy sông Đà. Theo truyền thuyết Hùng Vƣơng, Ngòi Lạt ở Tu Vũ là nơi xảy ra những trận đánh nhau kịch liệt giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Ngoài ra ở các địa phƣơng trong huyện còn có nhiều đầm, ao, hồ trong đó có những đầm lớn nhƣ đầm Đào Xá, Đầm Thủy Trạm.

Với hệ thống sông ngòi và hồ đầm, có trữ lƣợng nƣớc tƣơng đối lớn là điều kiện thuận lợi cho Thanh Thủy có nguồn tài nguyên nƣớc dồi dào, phục vụ cho đời sống và vận chuyển hàng hóa, nuôi trồng thủy sản nƣớc ngọt và phát triển sản xuất nông nghiệp. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tài nguyên đất Theo tài liệu thống kê năm 2003, toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên 12.382,47 hécta, bằng 3,5% đất đai toàn tỉnh, trong đó đất nông nghiệp có 5.065,66 hécta, chiếm 40,9%, đất lâm nghiệp có 1.987,84 hécta, chiếm 16%, đất chuyên dùng có 1.189,79 héc ta, chiếm 9,6%, đất ở có 355,01 héc ta bằng 2,86%, còn lại là đất chƣa sử dụng có 3784,17 héc ta, bằng 3,06%. Trong số diện tích chƣa sử dụng có 1. 789,98 héc ta là đất đồi núi và 1.747,76 héc ta mặt nƣớc sông, suối, ao, hồ.

Bình quân diện tích canh tác 704m2/ngƣời, tƣơng đƣơng với mức bình quân chung của Tỉnh. Tuy nhiên diện tích đất đai của các xã không đều nhau. 6 Xã có diện tích đất tự nhiên từ 600 – 700 héc ta, 3 xã có diện tích tự nhiên từ 1000 héc ta trở lên là Đào Xá 2.311héc ta, Sơn Thủy 1163 hécta, ít nhất là xã Trung Thịnh chỉ có 226 hécta đất tự nhiên. Ở những vùng đồi núi chủ yếu ở các xã nằm dọc theo hƣớng Tây Nam chất đất ở đây là đá sa thạch, diệp thạch chứa mi – ca, tầng canh tác trung bình từ 40 – 60 cm, thích hợp với sự sinh trƣởng và phát triển của cây chè.

Ở khu vực tiếp giáp Thanh Sơn về phía Nam huyện có những quả đồi có chất đất sa thạch hoặc đá quắc – zít. Ngoài ra còn có đất xám vàng phát triển trên nền phù sa cổ, đất phù sa không đƣợc bồi đắp hàng năm. Chính tài nguyên đất này cũng là điều kiện rất quan trọng cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Thủy không chỉ có cây lƣơng thực mà còn nhiều các loại cây khác nhƣ cây ăn quả, cây lâu năm… - Tài nguyên nước Huyện Thanh Thủy ngoài hệ thống sông Đà và sông Hồng có trữ lƣợng nƣớc lớn, nguồn nƣớc ở các hồ, đầm lại phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, đây chính là một nhân tố không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung của toàn huyện. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn nƣớc mƣa bổ sung trên địa bàn mỗi năm tới hàng trăm triệu m3.

Ngoài ra nguồn nƣớc ngầm mạch nông khá phong phú, hiện đang đƣợc khai thác dƣới dạng giếng đào, giếng khoan trong dân. Nhìn chung các nguồn nƣớc này cung cấp đủ để nuôi trồng thủy sản, nƣớc tƣới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nƣớc sinh hoạt cho nhân dân. Ngoài nƣớc cung cấp bởi các dòng sông thì các ao, hồ, kênh mƣơng cũng góp phần tích cực trong việc phục vụ sản xuất và điều tiết nguồn nƣớc vào mùa mƣa cũng nhƣ mùa khô trên địa bàn huyện. - Giao thông vận tải Thanh Thủy nằm ở cửa ngõ nối liền các tỉnh phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của cả nƣớc, nên đã từ lâu, nhân dân Thanh Thủy sinh sống ở ven bờ sông Đà đã biết lợi dụng dòng chảy để chở gỗ và các lâm thổ sản về xuôi.

Việc giao lƣu hàng hóa và đi lại của nhân dân địa phƣơng với các nơi khác trong và ngoài huyện rất thuận lợi. Trƣớc cách mạng tháng Tám năm 1945, hệ thống đƣờng bộ trên địa bàn Thanh Thủy chủ yếu là những con đƣờng mòn đi từ làng này sang làng khác, men theo bờ sông hoặc ven các sƣờn đồi. Cả huyện chỉ có con đƣờng số 24 đi từ chợ Hòa Bình theo ven sông Đà đến Tu Vũ có phà sang ngang ở ngòi Bai qua Thƣợng Nông, Bảo Yên, La Phù dài 33 km và con đƣờng đất nối La Phù với Trung Hà dài 9 km. Hiện nay Thanh Thủy có hệ thống đƣờng giao thông liên huyện, liên xã rất thuận lợi với tổng chiều dài trên 650km.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ