Tổng quan nghiên cứu
Trước thềm công cuộc đổi mới năm 1986, huyện An Lão thuộc thành phố Hải Phòng là địa phương thuần nông với tỷ trọng nông nghiệp chiếm trên 90% cơ cấu kinh tế, trong đó tỷ lệ dân số sống tại nông thôn lên tới 97,36% (tương đương 115.255 người trên tổng số 118.390 dân vào năm 1996). Mặc dù người dân có truyền thống thâm canh cần cù, mô hình tập thể hóa quan liêu bao cấp trước đây đã đẩy năng suất lúa xuống mức thấp (chỉ đạt bình quân 21,77 tạ/ha), dẫn đến tình trạng thiếu hụt lương thực triền miên và đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình đổi mới tư duy, sự chuyển biến đường lối và năng lực chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ huyện An Lão trong việc tháo gỡ điểm nghẽn sản xuất, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp từ bao cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm: hệ thống hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ các cấp; phân tích toàn diện quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đánh giá việc đổi mới mô hình hợp tác xã và giải quyết chính sách đất đai; từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn 16 xã và 1 thị trấn của huyện An Lão (với tổng diện tích tự nhiên 11.490 ha) trong giai đoạn lịch sử bản lề kéo dài 18 năm, từ khi tái lập huyện năm 1988 đến năm 2006. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận lịch sử Đảng lẫn thực tiễn phát triển kinh tế địa phương, chứng minh qua các chỉ số tăng trưởng ấn tượng khi tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,51%/năm và thu nhập bình quân đầu người tăng 1,79 lần trong giai đoạn 1991 - 1996.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nghiên cứu kết hợp hai mô hình lý thuyết cốt lõi: lý thuyết quan hệ sản xuất thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cùng với lý thuyết kinh tế hộ gia đình trong quá trình chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống khái niệm chuyên ngành chủ đạo được sử dụng xuyên suốt công trình gồm có:
- Quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp: Sự điều chỉnh hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối sản phẩm nhằm giải phóng sức sản xuất của người lao động.
- Kinh tế hộ tự chủ: Việc xác lập hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ trong đầu tư, chăm sóc và định đoạt sản phẩm cuối cùng.
- Cơ chế khoán sản phẩm (Khoán gọn theo Nghị quyết 10): Hình thức giao quyền sử dụng đất lâu dài và chuyển từ phân phối công điểm sang phân phối theo kết quả sản phẩm hàng hóa.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành gắn liền với cơ giới hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng tiến bộ sinh học và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn văn minh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic để tái hiện trung thực, khách quan và sinh động toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện qua từng thời kỳ cụ thể. Cỡ mẫu khảo sát bao trùm toàn bộ 17 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện An Lão, tập trung phân tích sâu tại các điểm nóng thực tiễn tiêu biểu như xã Chiến Thắng, Tân Viên, Mỹ Đức, Bát Trang, An Thái và Quang Trung. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng nhằm đối chiếu các địa bàn đi đầu trong phong trào khoán ruộng và cải tạo vườn tạp với các vùng thuần nông truyền thống.
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn kiện chính thống của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Chỉ thị 100-CT/TW, Nghị quyết 10-NQ/TW, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII, Nghị quyết 06-NQ/TW), các nghị quyết chuyên đề của Thành ủy Hải Phòng (Nghị quyết 24, Nghị quyết 33, Nghị quyết 816), cùng các báo cáo thống kê định kỳ, nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện An Lão từ khóa I đến khóa IV (1988 - 2006). Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả, so sánh liên thời gian để đối chiếu sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo tính xác thực, logic và độ tin cậy khoa học cao nhất.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát và phân tích nguồn tư liệu thực tiễn đã mang lại bốn phát hiện trọng tâm về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện An Lão:
Thứ nhất, bước đột phá từ cơ chế quản lý đã giải phóng mạnh mẽ sức lao động và nâng cao năng suất cây trồng. Việc triển khai quyết liệt Khoán 10 gắn với giao quyền tự chủ cho hộ nông dân đã chấm dứt hoàn toàn tình trạng ruộng đất bỏ hoang. Năng suất lúa bình quân toàn huyện tăng trưởng nhảy vọt từ 55,87 tạ/ha năm 1991 lên 91,00 tạ/ha vào năm 1995 (tăng 62,88%). Tổng sản lượng lương thực tăng từ 39.119 tấn lên trên 50.000 tấn, nâng mức lương thực bình quân đầu người từ 310 kg/năm (cuối thập niên 1980) lên mức 420 kg/năm vào năm 1995.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển biến rõ nét từ độc canh cây lúa sang đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi và phát triển kinh tế thủy sản. Tỷ trọng diện tích cây rau màu vụ đông tăng từ 320 ha năm 1991 lên 390 ha năm 1995, mang lại sản lượng tương đương 15.000 tấn hoa màu quy thóc. Ngành chăn nuôi ghi nhận bước tiến lớn với đàn lợn tăng từ 22.987 con lên 38.708 con (tăng 68,39%), trong khi ngành nuôi trồng thủy sản mở rộng diện tích với tốc độ tăng trưởng 16%/năm, từ 112,2 ha năm 1991 đạt 681,2 ha vào năm 1995, đạt giá trị sản lượng trên 5 tỷ đồng.
Thứ ba, sự đổi mới đồng bộ mô hình hợp tác xã từ quản lý hành chính tập trung sang mô hình cung ứng dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ. Bộ máy quản lý hợp tác xã được tinh giản từ hàng chục người xuống còn 4 - 6 nhân sự chuyên trách, tập trung thực hiện các khâu dịch vụ then chốt như thủy nông, bảo vệ thực vật, làm đất và cung ứng giống mới cấp 1 đạt chuẩn.
Thứ tư, kết cấu hạ tầng nông thôn và chuyển dịch lao động đạt kết quả vượt bậc nhờ phát huy hiệu quả phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Trong 5 năm (1991 - 1995), toàn huyện đã đầu tư 8.870 triệu đồng (ngân sách nhà nước hỗ trợ 48,8%) cùng 37.000 ngày công lao động để nâng cấp, làm mới 281 km đường giao thông nông thôn (gồm 12,8 km đường nhựa và 1,5 km đường bê tông), tạo nền tảng vững chắc thu hút các ngành tiểu thủ công nghiệp và chế biến nông sản phát triển với tốc độ 12,5%/năm.
Thảo luận kết quả
Thành công của Đảng bộ An Lão bắt nguồn từ việc dám nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng quy luật khách quan và kịp thời thể chế hóa các sáng kiến từ cơ sở, tiêu biểu là hiện tượng khoán chui tại các xã Chiến Thắng và Tân Viên trong giai đoạn 1977 - 1980. Khi người nông dân được giao quyền sở hữu thành quả lao động vượt khoán và giao đất ổn định 15 - 20 năm theo Luật Đất đai năm 1993, động lực sản xuất được kích hoạt tối đa, xóa bỏ triệt để tâm lý ỷ lại vào công điểm tập thể.
Các số liệu thống kê qua từng thời kỳ có thể được minh họa trực quan thông qua bảng đối chiếu tăng trưởng sản lượng lương thực giai đoạn 1991 - 1995 và biểu đồ cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2002 (trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm 65,96%, đất trồng cây lâu năm chiếm 14,66%, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản chiếm 7,96% và đất vườn tạp chiếm 11,93%). Khi so sánh với các địa bàn lân cận như Thủy Nguyên (mức giao đất bình quân 2,2 sào/nhân khẩu) hay Tiên Lãng (2,4 sào/nhân khẩu), An Lão đạt mức giao bình quân 2,7 sào/nhân khẩu. Mức giao đất tương đối cao này vừa là lợi thế quy mô, vừa đòi hỏi Đảng bộ huyện phải xử lý khéo léo bài toán đất đai manh mún (trung bình 7 - 8 thửa ruộng/hộ) thông qua chủ trương dồn điền đổi thửa trong giai đoạn công nghiệp hóa sau năm 1996.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm kế thừa và phát huy những thành tựu lịch sử trong bối cảnh phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần triển khai các nhóm giải pháp trọng tâm:
- Thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai nông nghiệp: Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường đẩy mạnh rà soát, quy hoạch vùng chuyên canh hàng hóa lớn; đặt mục tiêu hoàn thành dồn điền đổi thửa trên 85% diện tích đất nông nghiệp trong lộ trình 3 năm, tạo điều kiện hình thành các cánh đồng mẫu lớn và trang trại ứng dụng công nghệ cao.
- Nâng cao tỷ lệ cơ giới hóa và chuyển giao công nghệ sinh học: Trạm Khuyến nông huyện liên kết với các viện nghiên cứu nông nghiệp chuyển giao 100% giống lúa thuần chất lượng cao và giống cây ăn quả đặc sản (vải chín sớm, nhãn muộn); phấn đấu nâng tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất, gieo cấy và thu hoạch lên trên 75% trong vòng 5 năm tới.
- Mở rộng chuỗi liên kết giá trị và công nghiệp chế biến: Phòng Kinh tế và Hạ tầng chủ trì kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy sơ chế, chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu; đặt chỉ tiêu nâng tỷ trọng giá trị nông sản qua chế biến đạt trên 60% tổng sản lượng thương phẩm vào cuối giai đoạn 5 năm.
- Chuẩn hóa và nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cơ sở: Ban Tổ chức Huyện ủy xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kinh tế thị trường, kỹ năng quản trị dịch vụ nông nghiệp cho 100% cấp ủy viên và ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian 2 năm tới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và tư liệu thực tiễn của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện và cơ sở: Vận dụng bài học lịch sử về phương thức ra nghị quyết, chỉ đạo thực tiễn, giải quyết xung đột ruộng đất và xây dựng mô hình nông thôn mới tại các địa phương thuần nông.
- Học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Đảng và Kinh tế phát triển: Khai thác nguồn tư liệu lịch sử xác thực về quá trình chuyển đổi kinh tế nông nghiệp từ bao cấp sang kinh tế thị trường, phục vụ viết luận văn, luận án và các công trình khoa học chuyên sâu.
- Ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp và chủ trang trại: Tiếp cận các mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, luân canh vụ đông, kinh nghiệm phát triển trang trại VAC và quản lý dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp hiệu quả.
- Giảng viên và sinh viên các trường đại học khối Khoa học Xã hội: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên đề Lịch sử Đảng bộ địa phương Hải Phòng và tiến trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Hiện tượng "khoán chui" tại An Lão trước năm 1981 diễn ra như thế nào và có ý nghĩa gì?
Từ năm 1977, trước nguy cơ thiếu đói, Đảng bộ các xã như Chiến Thắng, Tân Viên đã mạnh dạn chia ruộng cho hộ xã viên trồng khoai tây và lúa. Năng suất khoai tây tăng gấp 2 lần, đạt 3 thúng/thước, năng suất lúa tăng từ 21,77 tạ/ha lên 36,34 tạ/ha, tạo tiền đề thực tiễn cho sự ra đời của Nghị quyết 24 Thành ủy Hải Phòng và Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư.
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã làm thay đổi sản xuất nông nghiệp tại An Lão ra sao?
Nghị quyết 10 xác lập hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, xóa bỏ phân phối theo công điểm. Tại An Lão, ruộng đất được giao ổn định 15 năm theo 2 vòng với mức bình quân 2,7 sào/khẩu, giúp năng suất lúa toàn huyện đạt mốc kỷ lục 91 tạ/ha vào năm 1995, đưa tổng sản lượng lương thực vượt 50.000 tấn.
Chuyển đổi mô hình hợp tác xã tại An Lão giai đoạn 1991 - 1996 có điểm gì nổi bật?
Bộ máy quản trị hợp tác xã được tinh gọn xuống 4 - 6 người, phân định rõ chức năng hành chính với sản xuất kinh doanh. Hợp tác xã chuyển hẳn sang cung cấp dịch vụ thủy lợi, bảo vệ thực vật, chuyển giao tiến bộ khoa học, để xã viên tự chủ quyết định việc đầu tư và tiêu thụ nông sản.
Nguyên nhân chính giúp chăn nuôi và thủy sản An Lão tăng trưởng mạnh giai đoạn 1991 - 1995 là gì?
Đảng bộ huyện đã chuyển đổi các vùng đất trũng, sông cụt kém hiệu quả sang nuôi thủy sản (diện tích tăng 16%/năm, đạt 681,2 ha), đồng thời khuyến khích phát triển trang trại quy mô vừa và nhỏ, giúp đàn lợn tăng mạnh 68,39%, đạt 38.708 con năm 1995.
Bài học cốt lõi nào trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ An Lão vẫn còn nguyên giá trị?
Đó là bài học bám sát thực tiễn đời sống nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của người nông dân, vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương vào điều kiện cụ thể của địa phương và không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở.
Kết luận
- Luận văn đã phục dựng một cách có hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện An Lão giai đoạn 1988 - 2006.
- Làm sáng tỏ các bước ngoặt mang tính đột phá từ phong trào khoán sản phẩm ban đầu, thực hiện Nghị quyết 10 đến quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Khẳng định tính đúng đắn của các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa năng suất lúa từ 55,87 tạ/ha lên 91 tạ/ha và nâng sản lượng lương thực vượt mốc 50.000 tấn.
- Đúc kết 4 nhóm bài học kinh nghiệm sâu sắc về công tác cán bộ, phát huy quyền tự chủ của nhân dân, liên kết đa thành phần kinh tế và ứng dụng khoa học kỹ thuật.
- Công trình là nguồn tài liệu quý báu phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử địa phương và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững.