CHƯƠNG 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN AN LÃO TẬP TRUNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 1988- 1995 1. Khái quát địa lý tự nhiên, sự thay đổi địa giới hành chính và tình hình dân cư của huyện An Lão 1. Khái quát địa lý tự nhiên Huyện An Lão nằm ở ví trí phía Tây- Nam của thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố 18km. Phía Bắc giáp huyện An Dương, Phía Nam giáp huyện Tiên Lãng, Phía Đông giáp quận Kiến An, Phía Đông- Nam giáp huyện Kiến Thuỵ, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Thanh Hà- Hải Dương.
Diện tích đất tự nhiên của An Lão là 11.490 km2, được trải trên một địa hình tương đối bằng phẳng. Diện tích đất tự nhiên này hình thành chủ yếu do sự bồi đắp phù sa của các con sông: Văn Úc, Đa Độ, Lạch Tray nên tương đối màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp toàn diện và vững chắc với nhiều sản phẩm phong phú bao gồm cả cây lương thực (lúa, ngô, khoai…), cây công nghiệp và cây ăn quả (vải, nhãn, táo, cam, chuối…). Huyện An Lão nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hai loại gió chủ yếu trong năm là Đông Nam và Đông Bắc được chia thành bốn mùa rõ rệt. Mùa đông, khô, lạnh; mùa hè, nóng, ẩm, mưa nhiều.
Lượng mưa trung bình hàng năm 1.700 ml, nhiệt độ trung bình hàng năm 230C, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung vào tháng 7, tháng 8 (bằng 62% lượng mưa cả năm). Lượng mưa phân bố không đều đã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp: vụ đông xuân cần nhiều nước để đổ ải, thau chua rửa mặn cho đất, dưỡng lúa… lại thường ít mưa gây hạn hán; vụ mùa thường có mưa lớn, lượng nước dư thừa nhiều gây úng lụt. Tuy nhiên, khí hậu mùa đông đặc biệt phù hợp với phát triển cây rau màu, cây thực phẩm vụ đông để phục vụ sinh hoạt của nhân dân, nguyên liệu cho chăn nuôi, chế biến rau xuất khẩu… 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Huyện An Lão có hệ thống sông ngòi khá dày đặc và phân bố đều, diện tích mặt nước 1.378 ha chiếm 6,7% diện tích tự nhiên.
Các con sông Lạch Tray, sông Đa Độ, sông Văn Úc cung cấp nước dồi dào, dẫn nước phù sa màu mỡ cho đồng ruộng, thuận tiện cho nuôi thả, khai thác thuỷ sản đồng thời là hệ thống giao thông đường thuỷ phục vụ tốt cho du lịch, vận tải. Là huyện vùng châu thổ sông Hồng nhưng An Lão có nhiều núi sót tạo nên cảnh trí thiên nhiên đa dạng được nhiều nhà nghiên cứu địa lý chú ý. Sách Đại Nam Nhất thống chí ghi: “Núi Voi ở cách huyện An Lão 8 dặm về phía Tây Bắc, hình thế như con Voi nằm, núi có hang, trong có nhiều thạch nhũ, núi Yên Ngựa ở xã Xuân Áng, núi Vọ ở xã Đồng Tử, núi Đấu ở cách huyện An Lão 9 dặm về phía Đông Bắc, bốn mặt cao chót vót, ở giữa trũng xuống và bằng phẳng như hình cái đấu…”. Cùng với quận Kiến An, An Lão có vị trí trung tâm trên đất liền của thành phố Hải Phòng.
Huyện có Quốc lộ 10 chạy qua và có mạng lưới giao thông tỉnh lộ, huyện lộ… thuận tiện cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Sự thay đổi về địa giới hành chính và tình hình dân cư Lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất An Lão đã có hàng nghìn năm nay. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở Di chỉ núi Voi (thuộc An Lão) có nhiều lưỡi rìu đồng, nhiều lưỡi dao găm bằng đồng có sống nổi ở giữa, có trốt hãm ở phần tra cán, đặc biệt còn thấy nhiều chiếc qua đồng khắc hình con thú trên mặt và hình học trổ thành rãnh … Dựa vào kết quả khảo cổ và những truyền thuyết về một số nơi trong huyện chứng tỏ vùng đất An Lão hình thành từ rất sớm: “người núi Voi sinh tụ vào cuối thời đại đồ đồng, đầu thời đại đồ sắt, cách đây gần 2.500 năm, sống chủ yếu bằng nghề săn bắn muông thú, hái lượm và sau đó đã làm ruộng và chăn nuôi” [36,14]. Địa danh An Lão là đơn vị hành chính cấp huyện cổ nhất của thành phố Hải Phòng ngày nay.
Thời vua Hùng dựng nước, An Lão thuộc bộ Dương Tuyền. Trong cuốn Lịch sử địa lý đầu tiên của nước ta, Nguyễn Trãi viết: Tỉnh Đông (sau 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này gọi là Hải Dương) tức bộ Dương Tuyền đứng đầu phên dậu ở phía Đông gồm có huyện An Dương: 63 xã, huyện An Lão: 59 xã, 2 trang. Hai huyện An Lão, An Dương có sản vật là giống gà chọi (tục gọi là kê ổ). Đến thế kỷ XVII Phạm Đình Hổ viết tác phẩm “Vũ Trung tuỳ bút” đã ghi: Phủ Hải Dương đất rộng, nhiều người… các huyện Thuỷ Đường, An Lão, An Dương, Nghi Dương, Tiên Minh… là những nơi đất liền với biển Đông.
Đến thời thuộc Minh vẫn giữ nguyên huyện An Lão nhưng thuộc Châu Đông Triều thuộc phủ Tân An. Thời Lê, An Lão thuộc phủ Kinh Môn xứ Hải Dương gồm phần lớn huyện An Lão, huyện Kiến Thuỵ và quận Đồ Sơn ngày nay. An Lão thuộc tỉnh Hải Kiến từ tháng 11/1946 đến tháng 12/1948. Từ năm 1949 đến năm 1962, An Lão thuộc tỉnh Kiến An.
Tháng 10 năm 1962, thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An sáp nhập thành một đơn vị hành chính mang tên thành phố Hải Phòng, An Lão là một huyện ngoại thành. Từ tháng 6 năm 1969, An Lão sáp nhập với huyện Kiến Thuỵ thành huyện An Thuỵ. Ngày 5/3/1980, huyện An Thuỵ giải thể, An Lão sáp nhập với thị trấn Kiến An thành huyện Kiến An. Ngày 8/8/1988 tái lập huyện An Lão theo Quyết định số 100/HĐBT của Hội Đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Trải qua nhiều lần thay đổi địa danh, địa giới, đến nay huyện An Lão có 16 xã và 1 thị trấn. Cư dân An Lão thuần Việt với những đức tính đặc trưng của dân tộc Việt: cần cù siêng năng, nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục chua mặn trồng lúa nước, hoa màu, trồng hoa, cây cảnh…., có truyền thống đoàn kết, bất khuất, kiên cường trong đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ: “…người dân An Lão đã vượt qua nhiều thử thách khó khăn, đóng góp sức người, sức của, bền bỉ, mưu trí dũng cảm lập nhiều chiến công, góp phần cùng cả nước giành thắng lợi vẻ vang” [35]. Truyền thống ấy đã được người dân An Lão đúc kết qua câu ca dao: Đứng trên đỉnh núi ta thề Không giết được giặc không về núi Voi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về dân số và lao động: Theo kết quả điều tra của Phòng thống kê huyện An Lão, tính đến năm 1996, dân số An Lão có 118.390 người, trong đó số dân nông thôn 115.255 người (chiếm 97,36%), dân số thành thị 3.135 người (chiếm 2,64% dân số huyện), mật độ dân số 906 người/km2, phân bố khá đều trên địa bàn huyện. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm là 1,35%, tỷ lệ suất sinh 17,07%.
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 11%. Số con trung bình của một bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,15 con. Số người trong độ tuổi lao động là 62.386 người (chiếm 52,70%), trong đó lao động làm nông nghiệp 47.455 người (chiếm 40,08% dân số), lao động phi nông nghiệp 70. Bảng 1: Dân số và lao động huyện An Lão đến năm 1996 Chỉ tiêu Đơn vị 1990 1996 Dân số trung bình 1000 người 111.390 Trong đó ds thành thị 1000 người 3.135 % so với ds % 2.01% Tỷ suất sinh %0 20,16 17,07 Tỷ suất chết %0 5,51 5,2 Ds chuyển đi Người 852 687 Ds chuyển đến Người 1.335 887 % so với ds % 1,19 0,74 Tỷ lệ tăng ds tự nhiên % 1.35 Ds trung bình trong độ tuổi lđ 1000 người 57.386 % so với ds % 51.70 LĐ có nhu cầu việc làm 1000 người 49.866 LĐ XH đang làm việc trên địa bàn 1000 người 41.186 % so với tổng ds % 37.94% (Nguồn:Phòng thống kê huyện An Lão- thành phố Hải Phòng) Những tiềm năng thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lịch sử truyền thống, dân cư nêu trên… là những nguồn nội lực quan trọng để 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân dân An Lão đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, xét từ góc độ phát triển kinh tế nông nghiệp, một số vấn đề cụ thể được đặt ra như sau: Thứ nhất: An Lão có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên để phát triển các loại cây lương thực và cây thực phẩm: lúa, khoai, ngô, đậu, rau xanh,… đặc biệt một số loại cây ăn quả đặc sản như vải, nhãn, táo, chuối, cam…. Do vậy, để khai thác tốt các điều kiện tự nhiên sẵn có cần phải thay đổi cơ cấu cây trồng hợp lý theo hướng đẩy mạnh phát triển các cây có giá trị kinh tế cao (cây thực phẩm và cây ăn quả đặc sản) hướng tới xuất khẩu. Thứ hai: An Lão là huyện có tiềm năng lao động dồi dào, mức tăng dân số khá nhanh làm cho mức dư thừa lao động ngày càng lớn. Dân số và lao động tập trung chủ yếu vào nông nghiệp.
Lực lượng lao động tập trung phần lớn trong ngành trồng trọt, trong đó trồng lúa là chủ yếu. Thực trạng trên đây đòi hỏi An Lão có kế hoạch sử dụng hợp lý nguồn lao động tại chỗ là chủ yếu (thông qua phát triển các ngành nghề). Từng bước thực hiện di dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới trong và ngoài huyện. Thứ ba: An Lão đã trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính gây nhiều biến động về tổ chức quản lý của các cấp lãnh đạo trong đảng bộ huyện.
Do đó đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đặc biệt cán bộ cơ sở phải thích ứng và không ngừng nâng cao trình độ để đảm đương những yêu cầu trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Thứ tư: Bên cạnh những thuận lợi, An Lão cũng gặp nhiều khó khăn, như: điều kiện tự nhiên bất thường: mưa, gió, bão, úng, lụt hoặc hạn hán…; cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như các trạm bơm, hệ thống kênh mương dẫn nước, máy móc nông nghiệp thiếu, lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng; trình độ và năng lực quản lý của cán bộ các cấp từ huyện đến thôn còn nhiều hạn chế. Do vậy, lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ mới cần phải khắc phục những khó khăn, hạn chế trên đây, phát huy 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.