Luận Văn Thạc Sĩ Về Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Tại Huyện Ứng Hòa, Hà Nội (2008-2015)

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ huyện ứng hòa thành phố hà nội lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 2008 đến năm 2015, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ỨNG HÒA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015

1.1. Các yếu tố tác động và chi phối chủ trƣơng phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Ứng Hoà

1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.3. Thực trạng kinh tế Ứng Hòa trước năm 2008

1.4. Đường lối và chủ trƣơng phát triển kinh tế của Đảng và Đảng bộ thành phố Hà Nội

1.5. Chủ trƣơng phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Ứng Hòa

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ỨNG HÒA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp

2.2. Phát triển trồng trọt

2.3. Phát triển chăn nuôi

2.4. Thực hiện dồn điền đổi thửa và phát triển kinh tế trang trại

2.5. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp

2.6. Chỉ đạo phát triển kinh tế công nghiệp

2.7. Công tác đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng

2.8. Phát triển công nghiệp-xây dựng

2.9. Phát triển tiểu thủ công nghiệp

2.10. Chỉ đạo phát triển kinh tế dịch vụ

2.11. Phát triển hệ thống thương mại

2.12. Phát triển tín dụng, ngân hàng

2.13. Phát triển dịch vụ giao thông vận tải

2.14. Phát triển các ngành dịch vụ khác

2.15. Kết quả về phát triển kinh tế

2.16. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Về hạn chế

3.3. Một số kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Huyện Ứng Hòa Giai Đoạn 2008 2015

Giai đoạn 2008-2015 là thời kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Trong thời gian này, huyện đã thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống người dân và cải thiện cơ sở hạ tầng. Sự chuyển mình này không chỉ thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn qua sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

1.1. Tình Hình Kinh Tế Huyện Ứng Hòa Trước Năm 2008

Trước năm 2008, kinh tế huyện Ứng Hòa chủ yếu dựa vào nông nghiệp với nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ. Huyện có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác hiệu quả.

1.2. Những Thay Đổi Sau Năm 2008

Sau khi hợp nhất với Hà Nội, huyện Ứng Hòa đã có những thay đổi tích cực trong phát triển kinh tế, với sự đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp.

II. Các Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Huyện Ứng Hòa

Mặc dù có nhiều thành tựu, huyện Ứng Hòa vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ là những trở ngại lớn.

2.1. Ô Nhiễm Môi Trường Và Tác Động Đến Kinh Tế

Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng cuộc sống.

2.2. Thiếu Hụt Nguồn Nhân Lực Chất Lượng

Nguồn nhân lực tại huyện còn thiếu hụt về chất lượng, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương.

III. Phương Pháp Phát Triển Kinh Tế Bền Vững Tại Huyện Ứng Hòa

Để phát triển kinh tế bền vững, huyện Ứng Hòa đã áp dụng nhiều phương pháp như đầu tư vào công nghệ mới, phát triển nông nghiệp hữu cơ và nâng cao chất lượng dịch vụ.

3.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Mới

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp đã giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân.

3.2. Phát Triển Nông Nghiệp Hữu Cơ

Nông nghiệp hữu cơ không chỉ bảo vệ môi trường mà còn tạo ra sản phẩm an toàn cho sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Phát Triển Kinh Tế Huyện Ứng Hòa

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn 2008-2015, huyện Ứng Hòa đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng 10%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.

4.1. Tăng Trưởng Kinh Tế 2008 2015

Tăng trưởng kinh tế của huyện đạt mức cao, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và dịch vụ.

4.2. Cải Thiện Đời Sống Người Dân

Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, với thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết Luận Về Phát Triển Kinh Tế Huyện Ứng Hòa

Kết luận, giai đoạn 2008-2015 là thời kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế huyện Ứng Hòa. Những thành tựu đạt được không chỉ góp phần nâng cao đời sống người dân mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai.

5.1. Bài Học Kinh Nghiệm

Các bài học kinh nghiệm từ quá trình phát triển kinh tế của huyện có thể áp dụng cho các địa phương khác trong cả nước.

5.2. Triển Vọng Tương Lai

Triển vọng tương lai của huyện Ứng Hòa phụ thuộc vào việc tiếp tục cải cách và đổi mới trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện ứng hòa thành phố hà nội lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 2008 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Ứng Hoà từ năm 2008 đến năm 2015. Chƣơng 2: Quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Ứng Hoà từ năm 2008 đến năm 2015. Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ỨNG HÒA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015 1.

Các yếu tố tác động và chi phối chủ trƣơng phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Ứng Hòa 1. Điều kiên tự nhiên, kinh tế - xã hội * Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Ứng Hòa là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ, có vị trí là “cửa ngõ của Thủ Đô”. Từ năm 2008 , theo Nghị quyết của Quốc Hội khóa XII, ngày 29 tháng 5 năm 2008 về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, toàn bộ tỉnh Hà Tây hợp nhất với Thủ đô Hà Nội. Vì vậy, Ứng Hòa là một huyện thuộc Thành phố Hà Nội.

Với vị trí nằm ở phía nam của thành phố Hà Nội, phía bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai, phía nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng (Hà Nam), phía tây giáp huyện Mỹ Đức, phía đông giáp huyện Phú Xuyên, Ứng Hòa có vai trò lớn về vị trí địa lý - chính trị, là địa bàn ngăn cách giữa vùng bán sơn địa và vùng núi phía tây với vùng đồng bằng; có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội với các huyện và tỉnh xung quanh, là cầu nối giao thông về đường bộ, đường sông với các vùng khác. Về địa giới hành chính Ứng Hòa gồm 01 thị trấn (Vân Đình) và 28 xã là Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hoa Sơn, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Hoà Phú, Đội Bình, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội. Tài nguyên thiên nhiên Địa hình Ứng Hoà tương đối bằng phẳng, là đồng bằng châu thổ, có độ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao trung bình là 1,5m, cao nhất là 4m ở vùng Viên An, Viên Nội, thấp nhất là 6m ở vùng Trầm Lộng, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Với đặc điểm đó, địa hình huyện Ứng Hòa có thể chia thành ba vùng: Vùng 1 (vùng ven sông Đáy) gồm 12 xã là Viên An, Viên Nội, Cao Thành, Sơn Công, Đồng Tiến, Hòa Xá, Hòa Phú, Hòa Nam, Vạn Thái, Phù Lưu, Lưu Hoàng, Hồng Quang.

Vùng này là những xã nằm dọc sông Đáy, phía trong đồng chủ yếu trồng lúa, phía ngoài bãi chủ yếu trồng cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc. Vùng 2 (vùng cao ở phía Bắc) gồm Thị trấn Vân Đình và 5 xã là Trường Thịnh, Quảng Phú Cầu, Hoa Sơn, Liên Bạt, và Tảo Dương Văn. Vùng có địa hình tương đối cao so với các xã khác trong huyện, chủ yếu là thâm canh lúa. Vùng 3 (vùng trũng) gồm 11 xã là Phương Tú, Đội Bình, Trung Tú, Đồng Tân, Minh Đức, Kim Đường, Đại Hùng, Đại Cường, Đông Lỗ, Hòa Lâm, Trầm Lộng.

Đây được coi là vùng rốn nước của cả tỉnh Hà Tây cũ, có độ cao thấp hơn mặt nước biển 0,5m, thường xuyên bị ngập lụt trong mùa mưa bão. Do điều kiện địa hình trũng không được bồi đắp phù sa hàng năm nên đất đai có độ chua cao, thường trồng trọt hai vụ lúa 1 vụ đông (đậu tương, ngô hoặc rau). Đây cũng chính là vùng sinh thái nông nghiệp của huyện, có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất đai, cơ cấu cây trồng và vật nuôi. vì vậy đây là vùng chủ yếu trồng lúa và cây vụ đông, chăn nuôi phát triển gia súc, gia cầm, thủy sản.

Đây là cơ sở quan trọng mà Đảng bộ huyện Ứng Hòa chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Như vậy, đặc điểm địa hình huyện Ứng Hòa rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp. Cấu tạo đất ở các vùng cao có cường độ cao, thuận lợi để bố trí các công trình công nghiệp. Khí hậu Ứng Hòa mang đặc trưng của vùng khí hậu đồng bằng Bắc bộ, nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của hai hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, khô xen lẫn gió biển nhiệt đới ẩm gây nên những giao động mạnh trong chế độ nhiệt ẩm và cả chế độ mưa.

Trong mùa đông thường xuất hiện những ngày rét xen kẽ những ngày nắng ấm, có những ngày hanh khô “nứt nẻ da chân” lại có những ngày nồm khiến nền nhà “đổ mồ hôi”. Xen giữa mùa Đông và mùa Hè có hai mùa chuyển tiếp. Mùa xuân bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4, nhiệt độ tăng dần, kèm theo mưa xuân, cây trồng phát triển mạnh. Mùa Hạ từ tháng 5 đến tháng 7, thời tiết nóng nực, kéo theo mưa rào và gió bão.

Mùa thu từ tháng 8 đến tháng 10, thời tiết mát dịu, mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, nhiệt độ xuống thấp, giá rét, kéo theo mưa phùn ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinh hoạt. Với những đặc trưng của khí hậu vùng châu thổ, khí hậu Ứng Hòa mang những đặc điểm sau: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50C, chênh lệch cao giữa các mùa, trong đó cao nhất là 36 - 370C (tháng 6) và nhiệt độ thấp nhất là 9 - 100C (tháng 1). Độ ẩm trung bình hàng năm là 84%, trong đó tháng cao nhất (tháng 3 và tháng 4) là 88%, tháng thấp nhất (tháng 12) là 80%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900mm, trong đó tập trung vào tháng 8, tháng 9 và thấp nhất là tháng 12 hàng năm.

Tổng số giờ nắng trong năm là 4. Với đặc điểm khí hậu có hai mùa rõ rệt, độ ẩm cao, mưa nhiều rất thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới và một số loại cây ôn đới chất lượng cao. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp Ứng Hòa vẫn chưa khắc phục được một số những tồn tại do ảnh hưởng của khí hậu. Vì vậy, nhà nước cần có những chính sách, biện pháp kịp thời khắc phục những hạn chế đó.

Mạng lưới sông, ngòi, hồ, ao của Ứng Hòa đa dạng và phong phú, có hai hệ thống sông chủ yếu là sông Đáy ở phía Tây Nam và sông Nhuệ ở phía Đông Nam là nguồn cung cấp nước chủ yếu. Trước đây sông Đáy có tên là Hát Giang, một phân lưu của bên bờ phải của sông Hồng tại Hát Môn và cũng là tụ điểm thứ hai sau ngã ba Hạc. Dòng sông Đáy chảy từ Việt Trì xuống đến 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cửa Đáy rồi đổ ra biển. Sông Đáy có chiều dài khoảng 240km và lưu vực (cùng với phụ lưu sông Nhuệ).

Là một phân lưu của sông Hồng ở địa phận Hà Nội giữa hai huyện Phúc Thọ và Đan Phượng. Xuôi đến Vân Đình thì lòng sông rộng ra. Sông Đáy chảy qua huyện Ứng Hòa với tổng chiều dài là 31km. Lượng nước để nuôi sông Đáy được cung cấp chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào, sông Nhuệ.

Nguồn nước tự nhiên của sông Đáy kết hợp với chế độ điều hòa của hệ thống thủy lợi đã phục vụ đắc lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế như giao thông, thủy sản và đặc biệt là ngành nông nghiệp. Sông Đáy còn là trục tiêu thoát chính trong mùa lũ và hoàn toàn mang đặc thù của sông ở đồng bằng: lòng và bãi sông biến đổi mạnh về chiều rộng. Sông Nhuệ là một con sông nhỏ dài khoảng 76 km, bề rộng trung bình từ 30 - 40m, chảy ngoằn ngoèo gần như theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bắt đầu từ cửa Hàm Rồng thuộc làng Hạ Mỗ huyện Đan Phượng, chảy qua các cánh đồng phì nhiêu của các huyện Từ Liêm, quận Hà Đông, huyện Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên và qua địa bàn huyện Ứng Hòa 11km. Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng, là nguồn cung cấp nước lớn cho nông nghiệp, đặc biệt còn là con sông tiêu nước cho thành phố Hà Nội, quận Hà Đông.

Cùng với hệ thống ao, hồ đã mang lại nguồn nước mặt cho huyện Ứng Hòa tương đối lớn (1,488 ha). Nguồn nước của sông Đáy và sông Nhuệ còn có chứa lượng phù sa, chất lượng tốt thích hợp cho việc cải tạo đồng ruộng và các kênh tưới tiêu. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp huyện Ứng Hòa phát triển. Tuy nhiên nguồn nước ngầm chưa được thăm dò, đánh giá cụ thể, nhưng theo kết quả sơ bộ cho thấy mực nước ngầm khoảng ở độ sâu 15m – 25m, chất lượng tốt, có thể khai thác và sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân.

Diện tích đất tự nhiên của huyện Ứng Hòa là 18.372,25ha, trong đó: Đất nông nghiệp: 12.873,16ha, chiếm 70,07% diện tích đất tự nhiên. Đất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyên dùng: 3. Hầu hết toàn bộ diện tích đất của huyện đã được sử dụng vào mục đích kinh tế, dân sinh. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người khoảng 650m2/người và 1.296m2/lao động nông nghiệp (cao hơn mức bình quân chung của Tỉnh Hà Tây là 1.

Hệ số sử dụng đất nông nghiệp của Ứng Hòa tương đối cao: 2,4 lần. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm tăng sản xuất nông nghiệp cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng đưa vào sử dụng những loại giống cây trồng có giá trị cao và năng suất cao. Hầu hết đất của Ứng Hòa là đất phù sa Sông Hồng, có độ phì nhiêu cao, thích hợp và rất tốt cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu thực phẩm và cây ăn quả. Trong giai đoạn hiện nay, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm, đất chuyên dùng và đất ở có xu hướng tăng.

Vì vậy cần có những chính sách để cân đối và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Về khoáng sản, Ứng Hòa tuy không thuộc vào nhóm khu vực giàu khoáng sản của vùng Đồng bằng sông Hồng, nhưng một số xã có vị trí thấp, trũng cũng có một loại khoáng sản là than bùn như xã Trung Tú, Đồng Tân, Hòa Lâm, Trầm Lộng, Minh Đức, Kim Đường, Đông Lỗ và Đại Hùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ