Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Một số khái niệm 1. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Thu nhập của nền kinh tế được thể hiện thông qua tổng sản phẩm trong nước (GDP hoặc tổng thu nhập quốc gia (GIN).
Tăng trưởng kinh tế được đo bằng hai chỉ tiêu: Quy mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng. Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế, chưa phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế. Trong Bách khoa toàn thư:“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định” [16]. Sự tăng trưởng được xác định và so sánh theo các thời điểm gốc sẽ cho thấy tốc độ tăng trưởng.
Đó là sự gia tăng quy mô, sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng là “cặp đôi” trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế [22]. Trên thế giới khi tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng thu nhập quốc gia hoặc tổng sản phẩm quốc nội. Tuy nhiên, khái niệm tăng trưởng kinh tế chỉ thuần túy nói đến số lượng.
Bởi những con số thể hiện tăng trưởng GDP, GNI, hay GDP/người không phản ánh sự vận động đi lên của xã hội, không cho biết được tình hình phân phối thu nhập quốc dân, cơ cấu, tính năng động của nền kinh tế và tình hình phúc lợi của nhân dân. Tăng trưởng kinh tế được gắn với chất lượng tăng trưởng. Nếu như số lượng của tăng trưởng kinh tế (KT) được thể hiện ở qui mô, tốc độ tăng trưởng, thì chất lượng của tăng trưởng KT là đặc tính quy định vốn có của nó, là sự thống nhất hữu cơ làm cho tăng trưởng KT khác với các hiện tượng khác. Chất lượng tăng trưởng được quy định bởi các yếu tố cấu thành và phương thức liên 7 kết giữa các yếu tố cấu thành nên tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Trong đó quan điểm của chương trình phát triển Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như Amrtya Sen, G.Stiglitz,… đã làm sáng tỏ nội hàm chất lượng tăng trưởng kinh tế. Theo đó cùng với quá trình tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở 6 tiêu chuẩn chính sau đây [16]: -Tốc độ tăng trưởng KT ổn định trong dài hạn và tránh được những biến động từ bên ngoài. -Tăng trưởng KT theo chiều sâu được thể hiện ở sự đóng góp của yếu tố năng suất, nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng.
-Tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả KT và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền KT. -Tăng trưởng đi kèm theo với phát triển môi trường bền vững. -Tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt nó thúc đẩy tăng trưởng ở tỉ lệ cao hơn. -Tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm được đói nghèo.
Như vậy có khẳng định tăng trưởng kinh tế hiện nay bao hàm hai nội dung là sự thay đổi về lượng đồng thời là sự thay đổi về chất của nền kinh tế. Xu hướng của nền kinh tế thế giới dần dần sẽ tập trung vào chất lượng nền kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Các giai đoàn phát triển kinh tế của Rostow Mô hình Rostow trong tiếng Anh là Rostow model. Mô hình Rostow (Rostow model) là một trong những mô hình phát triển kinh tế quan trọng nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Mỹ Walt Whitman Rostow vào những năm 1960.
Mô hình này cung cấp một khung nhìn tổng thể về quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, từ trạng thái nghèo đói đến trở thành một quốc gia giàu có, dựa trên việc tăng trưởng kinh tế và thay đổi 8 cách thức sản xuất. Mô hình Rostow chia quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia thành 5 giai đoạn: - Giai đoạn tiền công nghiệp (Preconditions for Take-Off): Trong giai đoạn này, nền kinh tế của quốc gia dựa trên nông nghiệp và ngư nghiệp, với hầu hết dân số làm việc trong lĩnh vực này. Công nghệ và sản xuất là rất thô sơ và ít phát triển. - Giai đoạn khởi đầu công nghiệp hóa: Trong giai đoạn này, quốc gia bắt đầu phát triển các ngành công nghiệp chế tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc sản xuất công nghiệp.
Những ngành công nghiệp mới này giúp tăng cường năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho dân số. - Giai đoạn chuyển dịch: Trong giai đoạn này, quốc gia bắt đầu chuyển dịch từ ngành công nghiệp chế tạo sang các ngành công nghiệp dịch vụ và công nghiệp hiện đại hơn. Sự đổi mới công nghệ và việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển giúp tăng cường sức mạnh kinh tế của quốc gia. - Giai đoạn thành lập các ngành công nghiệp công nghệ cao: Trong giai đoạn này, quốc gia bắt đầu phát triển các ngành công nghiệp dịch vụ cao cấp và công nghiệp công nghệ cao.
Năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của dân cư tăng lên đáng kể. - Giai đoạn đổi mới và phát triển bền vững: Giai đoạn này đánh dấu sự đổi mới liên tục trong các ngành công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ dịch vụ cao cấp, giúp quốc gia duy trì sự phát triển kinh tế bền vững và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường quốc tế. Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế theo cách hiểu thông thường đó là sự tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư. Phát triển kinh tế bao gồm: Gia tăng thu nhập của nền kinh tế hay tăng trưởng kinh tế; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ; Gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế; Nâng 9 cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Theo quan điểm của PGS.TS Ngô Thắng Lợi:“Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến toàn diện về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia”. Như vậy phát triển kinh tế bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống. Theo nghĩa đó, phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau [16]: -Sự tăng trưởng là sự tăng lên của tổng sản phẩm XH và thu nhập bình quân đầu người. -Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng thời đại, tiến bộ: Tỉ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong tổng sản phẩm quốc dân.
-Đời sống của nhân dân ngày càng cao về phúc lợi xã hội, tiêu chuẩn sống, giáo dục, sức khỏe và sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội. Theo GS Nguyễn Ngọc Trân (2015): Phát triển kinh tế vùng là nhằm thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển cân đối, bền vững của đất nước, có tính đến các yếu tố đặc thù và cơ hội của toàn lãnh thổ và của các vùng, giảm bớt những khác biệt giữa các vùng, không phải bằng cào bằng, kìm hãm nhau, mà bằng bảo tồn và phát huy những đặc tính riêng về môi trường tự nhiên, văn hóa và tiềm năng phát triển của các vùng [14]. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của một lãnh thổ là mức độ đạt được tính đến một mốc thời gian nhất định so với mục tiêu hoặc chuẩn phát triển kinh tế - xã hội mà lãnh thổ đó hướng tới [14]. Giữa Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tăng trưởng kinh tế thiên về số lượng, còn tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội phản ánh về chất lượng của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế, nhưng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cơ bản nhất của phát triển kinh tế. Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì sẽ không có phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế bao hàm trong đó có tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững 10 hơn.
Tóm lại bản chất của phát triển kinh tế chính bằng tăng trưởng kinh tế cộng với tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển của hiện tại, không làm tổn hại hay cản trở đến sự phát triển của mai sau. Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) với nội dung: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [16]. Vào thập niên 70, 80 của thế kỉ XX, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước đã đạt được tốc độ cao, người ta bắt đầu nhìn thấy được ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đi đôi với tương lai loài người.
Từ đó vấn đề phát triển bền vững trở thành vấn đề cấp thiết. Phát triển kinh tế bền vững được hiểu là “Sự phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” (UNEP – 1987) [20]. Nội dung của phát triển bền vững thông qua sự phát triển hợp lí ở cả 3 mặt: kinh tế - xã hội – môi trường. Phát triển KT phải đảm bảo sự tăng trưởng, hiệu quả và ổn định; đồng thời phải chú ý đến vấn đề XH như xóa đói, giảm nghèo nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân; xây dựng thể chế dân chủ, công bằng XH và bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc.
Phát triển bền vững còn phải bảo đảm yêu Hình 1. Mô hình phát triển bền vững cầu sử dụng có hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên, ngăn chặn ô nhiễm; tái tạo lại các nguồn năng lượng, nguyên, nhiên vật liệu, chất thải; chống biến đổi khí hậu trên toàn cầu… 11 1.