Chương I, Luật du lịch Việt Nam khái niệm dịch vụ du lịch được hiểu như sau: "Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, 9 lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch" [31, tr. Trên cơ sở những khái niệm chung về dịch vụ, dịch vụ du lịch có thể được hiểu là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch, khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, đồng thời mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch. + Đặc điểm của dịch vụ du lịch: Thứ nhất, tính phi vật chất. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ du lịch.
Tính phi vật chất làm cho du khách không thể sử dụng thử trước khi trực tiếp tiêu dùng dịch vụ du lịch, vì quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ dịch vụ du lịch. Vì vậy, đối với du khách khi họ chưa tiêu dùng dịch vụ du lịch thì nó vẫn là trừu tượng. Dịch vụ thường xuyên đồng hành với những sản phẩm vật chất nhưng dịch vụ mãi mãi tồn tại tính phi vật chất của mình khiến cho du khách thực sự khó đánh giá dịch vụ. Điều đó đòi hỏi nhà cung ứng dịch vụ du lịch cũng cần cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho du khách, những thông tin ấy phải nhấn mạnh được tính lợi ích của dịch vụ đối với du khách để họ thấy hài lòng và quyết định mua dịch vụ của mình.
Thứ hai, tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch. Đặc tính này thể hiện sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa. Đối với hàng hóa (vật chất) quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau. Việc sản xuất và tiêu dùng thường diễn ra ở những thời gian và địa điểm khác nhau.
Còn đối với dịch vụ thì ngược lại, việc sản xuất và tiêu dùng thường trùng nhau về không gian và thời gian. Sản xuất không phải để lưu kho hay cất đi như hàng hóa thông thường. Chẳng hạn, vào mùa đông thời gian rỗi của nhân viên du lịch ở các vùng ven biển không thể để dành đến lúc cao điểm của mùa hè được, một phòng khách sạn không cho thuê được trong ngày thì coi như mất dịch vụ, do đó mất nguồn thu v. Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung - cầu cũng không thể tách rời nhau và cần phải tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu.
Vì thế, công tác dự báo nhu cầu trong kinh doanh dịch vụ du lịch là hết sức quan trọng. Thứ ba, sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ. Đặc điểm này nói lên rằng khách du lịch ở một chừng mực nào đó đã trở thành nội dung 10 của quá trình sản xuất. Do việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nên ở đó có sự gặp gỡ giữa hai chủ thể: khách hàng và người sản xuất.
Sự gắn liền họ trong sự tác động qua lại này trong dịch vụ được khẳng định sự phụ thuộc vào mức độ lành nghề, khả năng của người cung cấp dịch vụ cũng như ý nguyện của người tiêu dùng. Do có sự đa dạng về yêu cầu, sở thích, trình độ cũng như khả năng cảm nhận và đánh giá của khách du lịch mà nhà cung ứng dịch vụ du lịch cần sáng tạo trong quá trình sản xuất của mình để thoả mãn nhu cầu của du khách. Mức độ hài lòng của du khách phụ thuộc nhiều vào khả năng, trình độ, nghệ thuật ứng xử của người làm dịch vụ. Người tiêu dùng ở đây không chỉ là người hưởng thụ những lợi ích do nhà cung ứng mang lại mà sự hợp tác cùng với những phản hồi của họ có tác động đến khả năng phục vụ và mức độ hoàn thiện của dịch vụ; họ trở thành người đồng sáng tạo trong quá trình sản xuất dịch vụ du lịch.
Thứ tư, tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch. Vì cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ nên dịch vụ du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể cung cấp dịch vụ du lịch đến tận tay du khách được mà du khách muốn tiêu dùng dịch vụ phải đến các cơ sở du lịch. Do vậy, các nhà kinh doanh du lịch muốn thu hút khách du lịch, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá du lịch.
Thứ năm, tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ. Khi mua sản phẩm vật chất, người mua có quyền sở hữu đối với sản phẩm đó. Còn đối với dịch vụ du lịch thì vấn đề không phải như vậy. Khi khách hàng mua dịch vụ du lịch thì sự tiêu dùng dịch vụ của họ song song với quá trình sản xuất của nhà cung ứng; do vậy khách hàng chỉ đang mua quyền hưởng thụ dịch vụ do nhà cung ứng mang lại chứ không thể mua được quyền sở hữu dịch vụ đó của nhà cung ứng dịch vụ du lịch.
Thứ sáu, tính không đồng nhất của dịch vụ du lịch. Dịch vụ du lịch là một loại hình dịch vụ đời sống thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong suốt thời gian đi du lịch. Dịch vụ du lịch khác với các hoạt động dịch vụ khoa học - công nghệ, dịch vụ sản xuất, dịch vụ đời sống khác ở chỗ: Dịch vụ du lịch chỉ thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, chứ không thoả mãn nhu cầu cho tất cả mọi người trong toàn xã hội, dịch vụ du lịch thoả mãn nhu cầu cho khách du lịch trong suốt thời gian đi du lịch như: nhu cầu ăn, ở, nghỉ ngơi, thăm quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu lịch sử, 11 văn hóa và các nhu cầu khác. Mặt khác, do khách hàng rất muốn chăm sóc như những con người riêng biệt nên dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hóa và không đồng nhất.
Doanh nghiệp du lịch rất khó đưa ra các tiêu chuẩn dịch vụ nhằm thoả mãn tất cả các khách hàng trong mọi hoàn cảnh vì sự thoả mãn ấy phụ thuộc vào sự cảm nhận của du khách. Thứ bảy, tính không đồng đều về sản lượng. Do quá trình sản xuất dịch vụ du lịch gắn liền với quá trình tiêu thụ nên sản lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu của du khách. Mặt khác, nhu cầu của khách du lịch rất phong phú đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thời tiết, tình hình chính trị - xã hội, an ninh quốc phòng, thiên tai, dịch bệnh, v.
Kết quả là số lượng khách du lịch thay đổi và kéo theo sản lượng dịch vụ du lịch cũng thay đổi theo từng ngày trong tuần, từng tuần trong tháng, từng tháng trong năm và giữa năm này so với năm khác. Sự khác nhau giữa sản phẩm vật chất và dịch vụ Sản phẩm vật chất Dịch vụ - Mang tính hữu hình - Mang tính vô hình - Được trưng bày trước khi mua, bán - Thông thường không được trưng bày hoặc trưng bán - Quyền sở hữu được chuyển giao khi - Không có sự thay đổi về quyền sở hữu mua, bán - Có thể được cất giữ hay lưu kho - Không thể được cất giữ hay lưu kho - Có thể được bán tiếp theo - Không bán được tiếp theo - Sản xuất và tiêu dùng thường diễn ra - Sản xuất và tiêu dùng thường trùng ở thời gian và địa điểm khác nhau nhau về thời gian và không gian - Có thể vận chuyển được - Không thể vận chuyển được ngay cả khi người sản xuất mong muốn - Có thể xuất khẩu được - Không thể xuất khẩu được - Khách hàng là bộ phận chỉ trong quá - Khách hàng là một bộ phận trong cả trình tiêu dùng quá trình sản xuất và tiêu dùng - Có thể quan hệ gián tiếp với khách - Trong đại đa số các trường hợp phải hàng quan hệ trực tiếp với khách hàng 12 - Khái niệm khách du lịch: Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ XVIII tại Pháp. Thời bấy giờ các hành trình của người Đức, Hà Lan, Đan Mạch, Bồ Đào Nha và người Anh trên đất Pháp được chia làm hai loại: Hành trình lớn theo bờ Địa Trung Hải, xuống phía Tây Nam nước Pháp và vùng Bourgne; Hành trình nhỏ từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp. Khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một hành trình lớn ("Faire le grand tour").
Để có định nghĩa đầy đủ về "khách du lịch", chúng ta cần phân tích một số định nghĩa rút ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch sau đây: + Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (năm 1937) về "khách du lịch nước ngoài" như sau: "Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h" [16, tr. + Định nghĩa của Tiểu ban về các vấn đề kinh tế - xã hội trực thuộc Liên hợp quốc (United Nations Department of Economic and Social Affaires) năm 1978 về "khách viếng thăm quốc tế" (international visitor from abroad): “Khách viếng thăm quốc tế là tất cả những người từ nước ngoài đến thăm một đất nước (given country) - chúng ta gọi là khách du lịch chủ động (inbound tourist); hoặc tất cả những người từ một nước đi ra nước ngoài viếng thăm - chúng ta gọi là khách du lịch thụ động (outbound tourist) với khoảng thời gian nhiều nhất là một năm” [16, tr. + Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác với mục đích thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn ba tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình” [16, tr.