phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề án được kết cấu thành 3 phần như sau: Phần 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển kinh doanh sản phẩm giống cây trồng trên địa bàn cấp tỉnh Phần 2: Phân tích và đánh giá thực trạng việc phát triển kinh doanh trên địa bàn tỉnh Sơn La Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị phát triển kinh doanh sản phẩm giống cây trồng trên địa bàn tỉnh Sơn La 4 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH DOANH SẢN PHẨM GIỐNG CÂY TRỒNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Vị trí, đặc điểm và vai trò về phát triển kinh doanh sản phẩm giống cây trồng 1. Một số khái niệm liên quan + Khái niệm phát triển kinh doanh Trước hết “phát triển” theo từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (2004) giải nghĩa: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Và “kinh doanh” được giải nghĩa như sau: “Tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời” Khái niệm về kinh doanh còn được đưa ra trên khía cạnh pháp luật, cụ thể, tại khoản 21 Điều 3 của Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.” Theo Pollack, Scott (2012) trong cuốn “What, Exactly, Is Business Development?” (dịch tạm, phát triển kinh doanh chính xác là gì?) thì có khái niệm như sau: “Phát triển kinh doanh (Business development) là việc tạo ra giá trị lâu dài cho một tổ chức từ khách hàng, thị trường và các mối quan hệ giữa các cá nhân, khách hàng” Phát triển kinh doanh là một thuật ngữ sử dụng khá nhiều trong đời sống, đặc biệt là trong vấn đề về kinh tế, tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hoạt động kinh doanh thương mại thì mục tiêu hướng tới là phát triển từ các sản phẩm, dịch vụ tới thị trường tiêu dùng; + Khái niệm giống cây trồng Theo Luật Trồng trọt 2018 tại khoản 5 Điều 2 của luật thì quy định như sau: 5 “Giống cây trồng là một quần thể cây trồng có thể phân biệt được với quần thể cây trồng khác thông qua sự biểu hiện của ít nhất là một đặc tính và di truyền được cho đời sau; đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống; có giá trị canh tác, giá trị sử dụng; bao gồm giống cây nông nghiệp, giống cây dược liệu, giống cây cảnh và giống nấm ăn” Theo Lê Thị Minh Thảo (2016), thì “Giống cây trồng là một tập hợp những cá thể có cùng nguồn gốc, có bản chất di truyền giống nhau, có những biểu hiện giống nhau về hình thái, đặc điểm nông sinh học”. Nói cách khác nhóm cá thể được gọi là giống khi ổn định tương đối về mặt di truyền, về năng suất, phẩm chất, khả năng thích ứng và chống chịu Theo Nguyễn Tiến Huyền (2010) thì “Giống cây trồng là một quần thể cây trồng do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn những yêu cầu nào đó của mình.
Tổng quan nghiên cứu
Tỉnh Sơn La hiện nay đã vươn lên trở thành vựa trái cây lớn nhất miền Bắc với tổng diện tích cây ăn quả đạt trên 84.160 ha và sản lượng hàng năm vượt mức 455.000 tấn. Địa phương đã thành công đưa 17 mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường 21 quốc gia, bao gồm các thị trường tiêu chuẩn cao như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đóng góp vào sự bứt phá này là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất dốc kém hiệu quả sang cây ăn quả giá trị cao. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh sản phẩm giống cây trồng trên địa bàn tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về quy mô sản xuất manh mún, chất lượng cây giống chưa đồng đều và thiếu sự liên kết chuỗi giá trị bền vững.
Đề án tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Nhật Cường, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Hữu Đức tại Trường Đại học Thương Mại, tập trung giải quyết bài toán phát triển kinh doanh sản phẩm giống cây trồng trên địa bàn tỉnh Sơn La. Nghiên cứu xác định mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng phát triển kinh doanh giống cây trồng trong giai đoạn 2020–2023, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy thương mại hóa giống cây trồng tiềm năng đến năm 2030. Không gian nghiên cứu bao quát toàn tỉnh Sơn La, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như xoài, mận, nhãn, chanh leo, bơ và sơn tra. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp trên 5,46%/năm và nâng cao kim ngạch xuất khẩu nông sản vượt mốc 165 triệu USD cho tỉnh Sơn La.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển kinh doanh hiện đại kết hợp với các nguyên lý kinh tế nông nghiệp đặc thù. Khái niệm phát triển kinh doanh được tiếp cận theo góc nhìn của Scott Pollack (2012) và Luật Doanh nghiệp 2020, khẳng định đây là quá trình tạo dựng giá trị lâu dài thông qua việc khai thác tối ưu khách hàng, thị trường và chuỗi cung ứng từ khâu đầu tư, sản xuất đến thương mại hóa. Về mặt sinh học và pháp lý, nghiên cứu vận dụng định nghĩa theo Luật Trồng trọt 2018 và các công trình của Lê Thị Minh Thảo (2016), xác định giống cây trồng là tư liệu sản xuất đặc biệt có tính di truyền ổn định, quyết định trực tiếp đến năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng.
Khung phân tích của đề án tích hợp mô hình phát triển kinh doanh cấp tỉnh xoay quanh 3 nội dung cốt lõi: xây dựng chủ trương kế hoạch, tổ chức thực hiện sản xuất tiêu thụ, và đánh giá điều chỉnh danh mục sản phẩm giống. Bên cạnh đó, mô hình liên kết "bốn nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) được áp dụng như một công cụ lý thuyết then chốt nhằm phân tích vai trò quản lý điều tiết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tác động tương hỗ giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường.
Phương pháp nghiên cứu
Đề án sử dụng hệ thống dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2020–2023 thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La, Cục Thống kê tỉnh Sơn La, Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản Sơn La cùng các báo cáo chuyên ngành nông nghiệp. Nghiên cứu thực hiện khảo sát thực địa toàn diện tại 6 cơ sở ươm giống chủ lực với tổng diện tích 13,4 ha (gồm Trại giống Pột Là 1,8 ha, Mường Hồng 2,0 ha, Phiêng Cằm 2,2 ha, Huy Hạ 3,0 ha, Bắc Phong 1,5 ha, Sặp Vạt 1,9 ha), kết hợp thu thập số liệu từ 142 doanh nghiệp và 1.021 hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được áp dụng để khảo sát các vùng sinh thái đại diện tại các huyện Mai Sơn, Mộc Châu, Yên Châu, Sông Mã và Thuận Châu. Nhóm phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh chuỗi thời gian được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác các chỉ tiêu về quy mô diện tích, cơ cấu chủ thể, năng suất sản phẩm giống và kim ngạch thương mại. Việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng cho phép nhận diện rõ nét các nhân tố khách quan (thời tiết, thị trường, cơ chế pháp lý) và nhân tố chủ quan (nguồn vốn, năng lực lao động, kỹ thuật ươm ghép) tác động đến hoạt động kinh doanh giống cây trồng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, diện tích và chủng loại sản phẩm giống cây trồng mới trên địa bàn tỉnh Sơn La ghi nhận mức tăng trưởng nhanh chóng. Diện tích gieo trồng các giống mới đã tăng từ 4.984 ha năm 2020 lên 8.528 ha năm 2023, đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng 71,1%. Trong giai đoạn 2020–2023, toàn tỉnh đã đưa vào khảo nghiệm và nhân rộng 28 bộ giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao, tiêu biểu như xoài Úc, xoài GL4, GL6; nhãn Ánh Vàng 205; mận Pu Nhi; chuối tây Thái Lan F1 và chanh leo Đài Nông 1. Riêng năm 2020 đã ghi nhận sự bùng nổ khi chiếm tới 53,4% tổng số giống mới được tiếp nhận trong cả giai đoạn.
Thứ hai, cơ cấu chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh giống cây trồng có sự chuyển dịch tích cực nhưng quy mô vẫn còn phân tán. Giai đoạn 2020–2023, số lượng doanh nghiệp tham gia tăng từ 137 lên 142 đơn vị (tăng 3,6%), số lượng hợp tác xã tăng từ 988 lên 1.021 đơn vị (tăng 3,3%), và số cá nhân, hộ gia đình trực tiếp sản xuất tăng từ 233.233 lên 263.380 hộ (tăng 12,9%). Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản tỉnh duy trì năng lực cung ứng bình quân 1,5 triệu cây giống mỗi năm, trong đó cung ứng 500 nghìn cây xoài, 400 nghìn cây sơn tra và 300 nghìn cây bơ chất lượng cao.
Thứ ba, quy mô năng suất và giá trị thương mại nông sản tăng trưởng vượt bậc nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật giống. Tổng sản lượng cây trồng chủ lực của tỉnh tăng từ 260.984 tấn năm 2020 lên 317.528 tấn năm 2022 (tăng 21,7%). Hoạt động kinh doanh giống cây trồng chuẩn hóa đã tạo tiền đề nâng giá trị xuất khẩu nông sản của Sơn La từ 150 triệu USD năm 2021 lên trên 165 triệu USD vào năm 2023, tăng 7,1% so với năm 2022.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện thực nghiệm minh chứng rõ nét hiệu quả từ việc triển khai Nghị quyết số 128/2020/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Việc hỗ trợ cho 287 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng hệ thống nhận diện và truy xuất nguồn gốc đã thúc đẩy mạnh mẽ niềm tin thị trường. Trên các biểu đồ phân tích cơ cấu, dữ liệu phản ánh rõ nét sự phân hóa năng lực khi các doanh nghiệp sở hữu công nghệ cao đạt sản lượng giống vượt trội (chiếm 14.800 tấn sản phẩm giống xuất bán năm 2023), trong khi khối hợp tác xã và hộ cá thể vẫn gặp khó khăn về kiểm soát chất lượng đồng đều.
So sánh với kinh nghiệm quản lý 362 nguồn giống tại tỉnh Phú Thọ và 252 cơ sở sản xuất giống tại Nghệ An, công tác quản lý chất lượng cây giống tại Sơn La vẫn còn khoảng trống lớn. Tình trạng giống cây trồng trôi nổi, chưa qua kiểm định chất lượng tại các vùng sâu vùng xa vẫn diễn biến phức tạp. Việc thiếu hụt các cơ sở chiết ghép đạt chuẩn VietGAP và chuỗi liên kết 4 nhà chưa thực sự khép kín là rào cản chính hạn chế tiềm năng thương mại hóa giống cây trồng của địa phương.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, mở rộng và phát triển mạng lưới các chủ thể tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh giống cây trồng. Ủy ban Nhân dân tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tập trung thu hút các tập đoàn nông nghiệp công nghệ cao, phấn đấu nâng quy mô doanh nghiệp kinh doanh giống đạt 200 đơn vị vào năm 2030. Đồng thời, triển khai các gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giúp 100% hợp tác xã đổi mới trang thiết bị nhà màng, hệ thống tưới nhỏ giọt tự động.
Thứ hai, hoàn thiện công tác quy hoạch, xây dựng chủ trương và danh mục giống cây trồng chiến lược. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chặt chẽ với các Viện nghiên cứu đầu ngành trong giai đoạn 2024–2026 thực hiện chuẩn hóa, bình tuyển và công nhận 100% vườn cây đầu dòng cho các loại cây ăn quả chủ lực. Mở rộng quy mô diện tích vườn ươm giống tập trung của tỉnh từ 13,4 ha lên 25 ha nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu giống chuẩn cho toàn vùng Tây Bắc.
Thứ ba, tối ưu hóa quy trình tổ chức sản xuất và xúc tiến thương mại sản phẩm giống. Nâng cao sản lượng xuất bán của Trung tâm Giống tỉnh đạt trên 3 triệu cây giống/năm vào giai đoạn 2025–2030, mở rộng phương pháp nhân giống vô tính ghép cành cà phê và nuôi cấy mô tiên tiến. Đẩy mạnh thương mại điện tử, kết nối kênh tiêu thụ giống cây trồng qua các nền tảng số và sàn giao dịch chuyên ngành.
Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra, kiểm định chất lượng và củng cố liên kết bốn nhà. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh cần tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất các cơ sở bán lẻ giống cây trồng, xử lý nghiêm theo Nghị định số 31/2023/NĐ-CP. Xây dựng cơ chế liên kết ràng buộc trách nhiệm giữa nhà khoa học chuyển giao bản quyền giống, doanh nghiệp cung ứng, nhà nông canh tác và nhà nước điều tiết.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Công Thương các tỉnh vùng Trung du và Miền núi phía Bắc có thể sử dụng đề án làm tài liệu tham khảo xây dựng chính sách phát triển cây ăn quả và quản lý thị trường giống cây trồng cấp tỉnh.
Nhóm doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp: Các giám đốc điều hành doanh nghiệp giống cây trồng, ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp tìm thấy trong luận văn các mô hình quản trị vườn ươm, chiến lược điều chỉnh danh mục sản phẩm và phương thức liên kết chuỗi tiêu thụ đạt chuẩn xuất khẩu.
Nhóm viện nghiên cứu, trường đại học và học viên: Giảng viên, nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị kinh doanh nông nghiệp có thể khai thác khung lý thuyết, hệ thống số liệu thực nghiệm và phương pháp đánh giá thực trạng kinh doanh giống cây trồng.
Nhóm tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư phát triển nông thôn: Các cán bộ thẩm định tín dụng thuộc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức phi chính phủ sử dụng luận văn để đánh giá tính khả thi tài chính, tiềm năng thị trường khi tài trợ vốn cho các dự án vườn ươm và liên kết nông nghiệp công nghệ cao.
Câu hỏi thường gặp
Thực trạng kinh doanh sản phẩm giống cây trồng tại Sơn La hiện nay đạt kết quả ra sao? Giai đoạn 2020–2023, diện tích phát triển giống mới tại Sơn La tăng mạnh 71,1% (từ 4.984 ha lên 8.528 ha) với 28 bộ giống mới đưa vào sản xuất. Toàn tỉnh có 142 doanh nghiệp và 1.021 hợp tác xã tham gia, cung ứng bình quân 1,5 triệu cây giống mỗi năm phục vụ hơn 84.160 ha cây ăn quả.
Những loại cây giống nào đang là sản phẩm tiềm năng chủ lực của tỉnh Sơn La? Các sản phẩm giống cây trồng tiềm năng mũi nhọn của tỉnh bao gồm: giống xoài GL4, GL6, xoài Úc; nhãn Ánh Vàng 205; mận Pu Nhi; chuối tây Thái Lan F1; chanh leo Đài Nông 1; bơ ghép đốm trắng và cây sơn tra bản địa phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Khó khăn lớn nhất trong phát triển kinh doanh giống cây trồng tại Sơn La là gì? Hạn chế lớn nhất là quy mô sản xuất của 1.021 hợp tác xã còn nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư công nghệ cao. Chuỗi liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp giống chưa bền vững, cùng với việc kiểm soát nguồn gốc giống cây trồng trôi nổi tại địa bàn miền núi còn nhiều bất cập.
Chính sách nào của tỉnh Sơn La đã hỗ trợ mạnh mẽ nhất cho hoạt động kinh doanh giống? Nghị quyết số 128/2020/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đã hỗ trợ trực tiếp 287 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, chứng nhận VietGAP và lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm.
Mục tiêu phát triển kinh doanh giống cây trồng của Sơn La đến năm 2030 hướng tới điều gì? Đến năm 2030, Sơn La hướng tới chuẩn hóa 100% hệ thống vườn ươm giống đầu dòng, nâng quy mô doanh nghiệp chuyên ngành lên 200 đơn vị, cung ứng trên 3 triệu cây giống đạt chuẩn/năm, làm nền tảng đưa giá trị xuất khẩu nông sản vượt mốc 200 triệu USD.
Kết luận
- Đề án đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận và thực tiễn về phát triển kinh doanh sản phẩm giống cây trồng cấp tỉnh, khẳng định vai trò then chốt của giống đối với nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa.
- Luận văn phân tích sâu sắc thực trạng kinh doanh giống cây trồng tại Sơn La giai đoạn 2020–2023, lượng hóa sự tăng trưởng 71,1% diện tích giống mới và việc mở rộng quy mô của 142 doanh nghiệp cùng 1.021 hợp tác xã.
- Công trình chỉ rõ các rào cản nội tại về chất lượng vườn ươm, nguồn vốn liên kết chuỗi giá trị và đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao đến năm 2030.
- Lộ trình thực hiện khuyến nghị chia rõ 2 giai đoạn: giai đoạn 2024–2026 tập trung chuẩn hóa mạng lưới vườn cây đầu dòng 25 ha, giai đoạn 2027–2030 hoàn thiện chuỗi thương mại số và kiểm soát chất lượng liên ngành.
- Đề án là tài liệu tham khảo giá trị cao cho các cơ quan hoạch định chính sách, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu trong tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp vùng Tây Bắc.