Phát Triển Kiến Thức và Kỹ Năng Dạy Học Thống Kê cho Giáo Viên Toán Tương Lai

Chuyên khảo giáo dục phân tích Toàn văn luận án phát triển kiến thức và thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai để dạy, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Đại học Sư phạm Huế

Chuyên ngành

Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

265
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu về kiến thức của giáo viên để dạy học

1.2. Nghiên cứu của Shulman

1.3. Nghiên cứu của Fennema và Franke

1.4. Mô hình kiến thức chủ đề trong toán học

1.5. Nghiên cứu của Ball và cộng sự

1.6. Vai trò và tầm quan trọng của kiến thức sư phạm đặc thù môn học

1.7. Tổng quan nghiên cứu về kiến thức của giáo viên để dạy học thống kê

1.8. Nghiên cứu về dạy học thống kê ở Việt Nam

1.9. Thống kê trong chương trình toán phổ thông ở Việt Nam

1.10. Chương trình đào tạo giáo viên toán trung học hiện nay

1.11. Đặt vấn đề nghiên cứu

1.12. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH KIẾN THỨC TOÁN ĐỂ DẠY HỌC

2.1. Mô hình các kiểu kiến thức toán của Ball và cộng sự (2008)

2.2. Phân tích các thành phần kiến thức của mô hình MKT

2.3. Một số nghiên cứu về mô hình kiến thức thống kê để dạy học

2.4. Giới thiệu NCBH và các nghiên cứu phát triển nghiệp vụ cho giáo viên theo NCBH

3. CHƯƠNG 3: KIẾN THỨC CƠ SỞ VỀ THỐNG KÊ VÀ BIỂU ĐỒ

3.1. Sơ lược tri thức luận và lịch sử thống kê

3.2. Biểu đồ cột và biểu đồ histogram

3.3. Những nhầm lẫn thường gặp giữa biểu đồ cột và biểu đồ histogram

3.4. So sánh các số đặc trưng đo xu thế trung tâm dựa trên hình dạng phân bố của biểu đồ

3.5. Kiến thức của giáo viên để dạy học biểu đồ cột và biểu đồ histogram trong thống kê

3.6. Kiến thức của giáo viên để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm dựa trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram

3.7. Kiến thức của giáo viên để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram

3.8. Mục tiêu nghiên cứu

3.9. Câu hỏi nghiên cứu

3.10. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Ngữ cảnh của các thực nghiệm

4.2. Quy trình thực nghiệm và thu thập dữ liệu

4.3. Công cụ nghiên cứu

4.4. Thực nghiệm 1: Đánh giá kiến thức để dạy học biểu đồ histogram trong thống kê

4.5. Thực nghiệm 2: Đánh giá kiến thức để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram

4.6. Thực nghiệm 3: Đánh giá kiến thức của GVTTL để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram

4.7. Thực nghiệm 4: Áp dụng nghiên cứu bài học để phát triển các kiểu kiến thức để dạy học biểu đồ cột và biểu đồ histogram

4.8. Phân tích dữ liệu

4.9. Thực nghiệm 1, 2 và 3

4.10. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Định hướng phân tích kết quả nghiên cứu

5.2. Kiến thức để dạy học biểu đồ histogram và sự tiến triển thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai

5.3. Sự tiến triển kiến thức nội dung phổ biến của giáo viên toán tương lai để dạy học biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.4. Sự tiến triển kiến thức nội dung đặc thù của giáo viên toán tương lai để dạy học biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.5. Sự tiến triển kiến thức về việc học của học sinh của giáo viên toán tương lai để dạy học biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.6. Sự tiến triển kiến thức về việc dạy của giáo viên toán tương lai để dạy học biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.7. Kiến thức để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram và sự tiến triển thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai

5.8. Sự tiến triển kiến thức nội dung phổ biến của giáo viên toán tương lai để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.9. Sự tiến triển kiến thức nội dung đặc thù của giáo viên toán tương lai để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.10. Sự tiến triển kiến thức về việc học của học sinh của giáo viên toán tương lai để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.11. Sự tiến triển kiến thức về việc dạy của giáo viên toán tương lai để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.12. Kiến thức để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram và sự tiến triển thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai

5.13. Sự tiến triển kiến thức nội dung phổ biến của giáo viên toán tương lai để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.14. Sự tiến triển kiến thức nội dung đặc thù của giáo viên toán tương lai để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.15. Sự tiến triển kiến thức về việc học của học sinh của giáo viên toán tương lai để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.16. Sự tiến triển kiến thức về việc dạy của giáo viên toán tương lai để dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram qua nghiên cứu bài học

5.17. Kết luận chương 5

6. CHƯƠNG 6: LÍ GIẢI, BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN

6.1. Sự tiến triển của kiến thức toán để dạy học biểu đồ histogram của giáo viên toán tương lai qua nghiên cứu bài học

6.2. Sự tiến triển kiến thức toán để dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ cột và biểu đồ histogram của giáo viên toán tương lai qua nghiên cứu bài học

6.3. Sự tiến triển của kiến thức toán để dạy học độ phân tán của dữ liệu trong biểu đồ của giáo viên toán tương lai qua nghiên cứu bài học

6.4. Những đề xuất về đổi mới đào tạo nghiệp vụ cho giáo viên toán tương lai hiện nay

6.5. Đóng góp của nghiên cứu

6.6. Hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển của đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

CÁC DỰ ÁN, ĐỀ TÀI KHOA HỌC ĐÃ VÀ ĐANG THAM GIA

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kiến Thức Dạy Học Thống Kê

Phát triển kiến thức và kỹ năng dạy học thống kê cho giáo viên toán tương lai là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Việc trang bị cho giáo viên những kiến thức cần thiết không chỉ giúp họ giảng dạy hiệu quả mà còn nâng cao chất lượng giáo dục toán học. Theo nghiên cứu của Shulman (1986), kiến thức sư phạm đặc thù là yếu tố quyết định trong việc dạy học thành công. Do đó, việc phát triển kiến thức thống kê cho giáo viên là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Kiến Thức Thống Kê Trong Giáo Dục

Kiến thức thống kê giúp giáo viên hiểu và truyền đạt các khái niệm cơ bản về dữ liệu, phân tích và diễn giải thông tin. Điều này không chỉ hỗ trợ học sinh trong việc học toán mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu.

1.2. Các Mô Hình Kiến Thức Dạy Học Thống Kê

Nghiên cứu của Ball và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng có nhiều kiểu kiến thức cần thiết cho giáo viên để dạy học thống kê hiệu quả. Các mô hình này bao gồm kiến thức nội dung phổ biến, kiến thức nội dung đặc thù và kiến thức về việc học của học sinh.

II. Những Thách Thức Trong Dạy Học Thống Kê Cho Giáo Viên Toán Tương Lai

Dạy học thống kê đối mặt với nhiều thách thức, từ việc thiếu tài liệu giảng dạy đến sự không đồng nhất trong kiến thức của giáo viên. Nhiều giáo viên chưa được đào tạo đầy đủ về thống kê, dẫn đến việc giảng dạy không hiệu quả. Hơn nữa, sự thay đổi trong chương trình giáo dục cũng tạo ra áp lực cho giáo viên trong việc cập nhật kiến thức.

2.1. Thiếu Tài Liệu và Nguồn Tài Nguyên

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu giảng dạy thống kê phù hợp. Điều này ảnh hưởng đến khả năng truyền đạt kiến thức cho học sinh và làm giảm chất lượng dạy học.

2.2. Sự Không Đồng Nhất Trong Kiến Thức Của Giáo Viên

Một số giáo viên thiếu kiến thức chuyên sâu về thống kê, dẫn đến việc giảng dạy không đồng nhất. Điều này có thể gây nhầm lẫn cho học sinh và ảnh hưởng đến kết quả học tập.

III. Phương Pháp Phát Triển Kiến Thức Dạy Học Thống Kê Hiệu Quả

Để phát triển kiến thức dạy học thống kê cho giáo viên toán tương lai, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và tích cực. Việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng giúp giáo viên nâng cao kỹ năng và kiến thức của mình.

3.1. Áp Dụng Công Nghệ Trong Dạy Học

Công nghệ có thể hỗ trợ giáo viên trong việc giảng dạy thống kê thông qua các phần mềm phân tích dữ liệu và các công cụ trực tuyến. Việc này không chỉ giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc truyền đạt kiến thức mà còn tạo hứng thú cho học sinh.

3.2. Tổ Chức Các Khóa Đào Tạo Chuyên Sâu

Các khóa đào tạo chuyên sâu về thống kê cho giáo viên sẽ giúp họ cập nhật kiến thức mới và cải thiện kỹ năng giảng dạy. Điều này cũng tạo cơ hội cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Kiến Thức Thống Kê Trong Giảng Dạy

Việc áp dụng kiến thức thống kê vào giảng dạy thực tiễn là rất quan trọng. Giáo viên cần biết cách sử dụng các phương pháp thống kê để giải quyết các vấn đề thực tế và giúp học sinh phát triển tư duy phản biện.

4.1. Thực Hành Dạy Học Thống Kê Qua Dữ Liệu Thực Tế

Giáo viên có thể sử dụng dữ liệu thực tế để minh họa các khái niệm thống kê. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng phân tích dữ liệu.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Học Sinh

Sử dụng các phương pháp thống kê để đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan về hiệu quả giảng dạy và điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Dạy Học Thống Kê

Tương lai của dạy học thống kê phụ thuộc vào việc phát triển kiến thức và kỹ năng cho giáo viên toán tương lai. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về kiến thức thống kê trong xã hội hiện đại.

5.1. Định Hướng Phát Triển Chương Trình Đào Tạo

Cần có sự điều chỉnh trong chương trình đào tạo giáo viên để tích hợp kiến thức thống kê một cách hiệu quả. Điều này sẽ giúp giáo viên có nền tảng vững chắc trong việc giảng dạy.

5.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu và Đổi Mới

Khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy học sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực và nâng cao chất lượng giáo dục thống kê.

17/07/2025
Toàn văn luận án phát triển kiến thức và thực hành nghiệp vụ của giáo viên toán tương lai để dạy học thống kê

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng tôi trình bày các nghiên cứu liên quan đến các kiểu kiến thức toán để dạy học là bản chất của năng lực nghề nghiệp của GV toán, đặc biệt là các nghiên cứu dựa trên mô hình của Ball và cộng sự (2008). Đi sâu hơn nữa, việc tổng quan các nghiên cứu về kiến thức của GV để dạy học thống kê cho chúng tôi hiểu rõ hơn các đặc trưng của các kiểu kiến thức khi áp dụng trong dạy học thống kê. Bên cạnh đó chúng tôi phân tích nội dung của chủ đề thống kê ở phổ thông cũng như trong chương trình đào tạo GV toán, làm cơ sở để phát triển, điều chỉnh mô hình kiến thức toán để dạy học của Ball và cộng sự (2008) vào ngữ cảnh dạy học thống kê. Tổng quan nghiên cứu về kiến thức của giáo viên để dạy học Nghiên cứu về kiến thức của GV để dạy học là một lĩnh vực quan trọng trong đào tạo và phát triển nghiệp vụ cho GV.

Kiến thức nội dung và kiến thức nội dung sư phạm đã được coi là những thành phần cốt lõi của năng lực GV (Ball, Thames & Phelps, 2008; Shulman, 1987). Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng kiến thức nội dung và kiến thức nội dung sư phạm tác động đến chất lượng giảng dạy và sự tiến bộ của học sinh (HS) (Fennema & Franke, 1992; Ball, Thames & Phelps, 2008; Hill, Ball & Schilling, 2008; Baumert et al. Trong suốt quá trình nghiên cứu giáo dục, các nhà nghiên cứu đã làm việc để mô tả kiến thức mà GV cần để giảng dạy cũng như cách GV có thể phát triển loại kiến thức này. Ở phần tiếp theo, chúng tôi trình bày một số công trình của các nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trên thế giới như công trình của Shulman (1986), Fennema và Franke (1992), Rowland và cộng sự (2003, 2005, 2007), Ball và cộng sự (2008) là cơ sở nền tảng kiến thức cho nghiên cứu của chúng tôi.

Nghiên cứu của Shulman Trong lĩnh vực này, Shulman (1986) được xem là nhà nghiên cứu tiên phong mở đường cho các nghiên cứu về kiến thức của GV cần thiết cho việc giảng dạy. Shulman cho rằng trước đó có ít nghiên cứu liên quan đến vai trò của kiến thức nội dung của GV ảnh hưởng đến việc dạy học của họ, trọng tâm của các nghiên cứu trước đây chỉ xoay quanh các tiến trình, cách thức dạy học mà bỏ lỡ các nghiên cứu về kiến thức nội dung giảng dạy. Chương trình nghiên cứu của Shulman đã cho thấy kiến thức của GV là yếu 4 tố rất quan trọng ảnh hưởng nhiều đến thực hành dạy học của họ và các hình thức hành vi của GV thúc đẩy hiệu quả đến thành tích học tập của HS (Shulman, 1986). Những câu hỏi nghiên cứu như GV quyết định về những nội dung cần dạy như thế nào? Làm thế nào để biểu đạt những nội dung cần dạy đó? Làm thế nào để giải quyết những sai lầm của HS về nội dung toán học nào đó?.

là trọng tâm chú ý của Shulman và những nghiên cứu hướng đến các kiểu kiến thức cần có của GV. Theo Petrou và Goulding (2011), Shulman đã đề xuất phân loại các kiểu kiến thức của GV thành bảy loại như sau: kiến thức sư phạm tổng quát, kiến thức về đặc điểm của người học, kiến thức về ngữ cảnh dạy học, kiến thức về mục tiêu và giá trị giáo dục, kiến thức nội dung môn học, kiến thức nội dung sư phạm và kiến thức chương trình. Tuy nhiên, Shulman chỉ tập trung vào kiến thức liên quan trực tiếp đến nội dung toán học được dạy. Vì vậy, bốn kiểu kiến thức đầu tiên đề cập đến các khía cạnh tổng quát của kiến thức của GV và đó không phải là trọng tâm của các nghiên cứu của Shulman.

Ba kiểu kiến thức còn lại, là kiến thức nội dung môn học, kiến thức chương trình và kiến thức nội dung sư phạm liên quan trực tiếp đến những khía cạnh nội dung toán của kiến thức GV, là những vấn đề còn chưa được chú ý đúng mức trong nghiên cứu về dạy học. Trong nghiên cứu của mình, Shulman đã tập trung phân tích ba kiểu kiến thức: • Kiến thức nội dung môn học (Subject Matter Knowledge) bao gồm kiến thức về các chủ đề dạy học của môn học và cách thức tổ chức, sắp xếp cấu trúc của nó. GV không chỉ cần hiểu rằng một cái gì đó là như thế nào mà cần phải hiểu rõ thêm tại sao nó lại như vậy. Shulman cho rằng kiến thức nội dung môn học phải vượt lên trên kiến thức về những khái niệm hay sự kiện của một lĩnh vực.

• Kiến thức chương trình (Curricular Knowledge) là kiến thức của người GV hiểu biết đầy đủ về chương trình giảng dạy môn học và chủ đề cụ thể ở cấp độ nhất định, sự đa dạng của các tài liệu giảng dạy liên quan đến các chương trình đó, kiến thức về những hướng dẫn giảng dạy, về sách giáo khoa, cũng như kiến thức về những chủ đề và những cách thức trong đó những chủ đề này được trình bày, hay những lưu ý cho việc sử dụng các chương trình hoặc tài liệu chương trình cụ thể trong các trường hợp cụ thể. Mặt khác, có kiến thức về chương trình tốt người GV dựa vào đó xây dựng những công cụ giảng dạy phù hợp, đồng thời đây cũng là quy chuẩn giúp GV đánh giá mức độ phù hợp thành tích học tập của HS. 5 • Kiến thức nội dung sư phạm (Pedagogical Content Knowledge) là kiểu kiến thức có tính mới và có ảnh hưởng nhất. Shulman (1986) quan niệm kiến thức nội dung sư phạm là tập hợp của kiến thức về nội dung và kiến thức về sư phạm đặc thù cho việc dạy học.

Kiến thức nội dung sư phạm bao gồm những dạng biểu diễn đặc thù cho nội dung toán, những ví dụ và ứng dụng mà GV sử dụng để làm cho HS dễ hiểu hơn, cùng với những chiến lược dạy học để giúp HS vượt qua khó khăn. Với khái niệm kiến thức nội dung sư phạm, Shulman muốn nhấn mạnh không phải chỉ đơn thuần là kiến thức nội dung, cũng không đơn thuần là kiến thức sư phạm, mà phải là một sự kết hợp của hai kiểu kiến thức này trong dạy học. Tính hữu dụng của kiến thức nội dung sư phạm được thể hiện qua việc ngay khi được Shulman (1986) giới thiệu, nó đã được nhiều nhà nghiên cứu thích nghi, điều chỉnh, sử dụng, phát biểu lại khái niệm này. Chẳng hạn, Meredith (1995) cho rằng cần một khung nội dung rộng hơn, mở rộng của kiến thức nội dung sư phạm là cần thiết.

Cho dù công trình của Shulman (1986) là mang tính tiên phong và ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực nghiên cứu kiến thức của GV, nhiều nhà nghiên cứu sau này đã cho rằng sự phân loại các kiểu kiến thức GV của Shulman (1986) là chưa đủ rõ và đủ để có thể thực hành trong nghiên cứu (Zhang & Stephens, 2013). Theo Ball và cộng sự (2008), sự phân biệt giữa khái niệm kiến thức nội dung và kiến thức nội dung sư phạm theo Shulman thường chưa được rõ ràng. Hơn nữa, Shulman chưa chú trọng đến sự tương tác giữa các kiểu kiến thức này (Hashweh, 2005). Nghiên cứu của Fennema và Franke Mô hình của Fennema & Franke (1992) được xây dựng nhằm sửa đổi những hạn chế trong nghiên cứu của Shulman (1986).

Fennema và Franke (1992) cho rằng sự phân loại của Shulman (1986) chưa chú trọng đến bản chất động của kiến thức, mà kiến thức của GV thường phát triển qua những tương tác trong lớp học với HS liên quan đến nội dung toán học hướng đến. Bằng cách phân loại các tình huống từ các lớp học nơi kiến thức toán học xuất hiện trong giảng dạy, họ đề xuất một mô hình kiến thức cho GV được sử dụng để mô tả những gì GV cần trong giảng dạy toán học. Mô hình quan niệm về kiến thức GV của hai tác giả này dựa trên sự phân loại của Shulman (1986), nhưng tập trung hơn vào khía cạnh tương tác và động của bản chất kiến thức của GV. Họ cho rằng kiến thức toán học để giảng dạy bao gồm bốn thành phần: kiến thức về nội dung, kiến thức về sư phạm, kiến thức về nhận thức của HS và niềm tin của GV.

Mô hình kiến thức của giáo viên theo Fennema và Franke (1992) Mô hình của Fennema và Franke (1992) tập trung vào kiến thức của GV khi nó xảy ra trong bối cảnh của lớp học. Trọng tâm trong quá trình hình thành khái niệm của họ nhấn mạnh đến kiến thức có bản chất tương tác và trong một bối cảnh nhất định, kiến thức về nội dung của GV có liên quan đến kiến thức về sư phạm, nhận thức của HS và kết hợp với niềm tin để tạo ra một bộ kiến thức xác định thực hành giảng dạy và hành vi của GV trong lớp học. Hơn nữa, họ cho rằng kiến thức có tính chất động và cho rằng dạy học là một quá trình trong đó GV có thể thay đổi kiến thức hiện có và tạo ra kiến thức mới. Kiến thức nội dung toán của GV theo Fennema và Franke (1992, trang 162) bao gồm: “kiến thức của GV về các khái niệm, quy trình và quá trình giải quyết vấn đề trong lĩnh vực mà họ giảng dạy.

Nó bao gồm kiến thức về các khái niệm cơ bản của các quy trình, sự liên quan lẫn nhau của các khái niệm và cách các khái niệm và quy trình này được sử dụng trong các dạng giải quyết vấn đề khác nhau” Thành phần kiến thức sư phạm đề cập đến “kiến thức của GV về các quy trình giảng dạy như các chiến lược hiệu quả để lập kế hoạch, các thói quen trong lớp học, kĩ thuật quản lí hành vi, quy trình tổ chức lớp học và kĩ thuật tạo động lực” (Fennema & Franke, 1992, trang 162). Từ sự hình thành khái niệm của Fennema và Franke, có thể nói rằng thành phần kiến thức sư phạm có liên quan đến phạm trù kiến thức sư phạm chung của Shulman, bao gồm các nguyên tắc và chiến lược rộng rãi về quản lí lớp học. Hơn nữa, khi xem xét kiến thức sư phạm của GV, họ thảo luận về kiến thức của GV về biểu diễn theo cách tương tự như cách hình thành khái niệm của Shulman, theo đó việc sử dụng biểu diễn là trọng tâm trong giảng dạy (Petrou & Goulding, 2011).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ