Tổng quan luận án
Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán (Giáo dục học), thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hà Phương dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Kiêm Minh tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế (bảo vệ năm 2022). Luận án tập trung vào việc đánh giá và phát triển kiến thức toán để dạy học thống kê cho giáo viên toán tương lai thông qua tiếp cận nghiên cứu bài học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam, Thống kê và Xác suất là một trong ba mạch kiến thức cốt lõi xuyên suốt từ lớp 2 đến lớp 12, chiếm thời lượng từ 3% ở cấp tiểu học và tăng dần lên khoảng 14% ở cấp trung học phổ thông. So với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (nơi thống kê chỉ xuất hiện rời rạc ở lớp 7 và lớp 10), chương trình mới đòi hỏi học sinh không chỉ tính toán thuần túy theo công thức mà phải đọc hiểu, phân tích dữ liệu, nhận diện quy luật và hiểu bản chất các số đặc trưng.
Thực tế đào tạo giáo viên toán ở các trường đại học sư phạm cho thấy đối tượng tri thức thống kê — đặc biệt là biểu đồ thống kê (biểu đồ cột, biểu đồ histogram), các số đặc trưng đo xu thế trung tâm và độ phân tán của dữ liệu — chưa được trang bị đầy đủ về mặt bản chất tri thức luận và sư phạm. Giáo viên thường nhầm lẫn giữa biểu đồ cột và biểu đồ histogram (nhất là trường hợp các lớp ghép có độ rộng khác nhau, diện tích hình chữ nhật tỉ lệ với tần số/tần suất chứ không phải chiều cao). Trong khi đó, các nghiên cứu về kiến thức dạy học thống kê của giáo viên gắn liền với thực hành dạy học và tiếp cận phát triển nghề nghiệp hợp tác như nghiên cứu bài học (Lesson Study) tại Việt Nam vẫn còn là khoảng trống chưa được khai thác.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng các kiểu kiến thức nội dung và kiến thức sư phạm của giáo viên toán tương lai (GVTTL) khi dạy học ba nội dung thống kê: biểu đồ thống kê (biểu đồ cột và biểu đồ histogram), các số đặc trưng đo xu thế trung tâm trên biểu đồ, và độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ.
- Vận dụng quy trình nghiên cứu bài học (NCBH) được xây dựng dựa trên mô hình của Lewis (2009) để phát triển các kiểu kiến thức toán để dạy học thống kê của GVTTL.
- Đề xuất mô hình và giải pháp có cơ sở khoa học nhằm đổi mới nội dung đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho GVTTL tại các cơ sở đào tạo giáo viên.
Câu hỏi nghiên cứu
- Kiến thức để dạy học thống kê của GVTTL ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Làm thế nào để phát triển các kiểu kiến thức để dạy học hiệu quả thống kê cho các GVTTL?
- Có thể phát triển năng lực nghiệp vụ để dạy học thống kê cho GVTTL qua NCBH như thế nào?
- Kiến thức thống kê của GVTTL thể hiện như thế nào trong thực hành dạy học trên lớp và làm thế nào để phân tích các thực hành dạy học đó?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các kiểu kiến thức toán để dạy học thống kê (CCK, SCK, KCS, KCT) và sự tiến triển thực hành nghề nghiệp của GVTTL thông qua quy trình NCBH.
- Khách thể khảo sát: Sinh viên các lớp Sư phạm Toán thuộc Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng; học sinh tại Trường THPT Thuận Hóa (Huế) và Trường THPT Nguyễn Trãi (Đà Nẵng).
- Phạm vi nội dung: Ba chủ đề thống kê trọng tâm ở trường phổ thông: (1) Biểu đồ cột và biểu đồ histogram; (2) Các số đặc trưng đo xu thế trung tâm (số trung bình, trung vị, mốt); (3) Độ phân tán của dữ liệu (khoảng biến thiên, khoảng tứ phân vị, phương sai, độ lệch chuẩn) trên biểu đồ thống kê.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Khung kiến thức nghề nghiệp của giáo viên: Shulman (1986, 1987) khởi xướng việc phân chia kiến thức giáo viên thành 7 nhóm, trọng tâm là Kiến thức nội dung môn học (SMK), Kiến thức chương trình (Curricular Knowledge) và Kiến thức nội dung sư phạm (PCK). Fennema và Franke (1992) bổ sung tính tương tác động và nhận thức của học sinh. Rowland cùng cộng sự (2003, 2005, 2007) xây dựng khung "Bộ tứ kiến thức" (Knowledge Quartet: Nền tảng, Chuyển đổi, Kết nối, Thích ứng). Ball, Thames và Phelps (2008), Hill, Schilling và Ball (2004) hoàn thiện mô hình Kiến thức toán để dạy học (MKT) phân định sáu thành tố.
- Kiến thức dạy học thống kê: Cobb và Moore (1997), Garfield và Ben-Zvi (2009), Groth và Bergner (2006), Batanero và Díaz (2010), Batanero, Burrill và Reading (2011) chỉ ra các khó khăn của giáo viên về giá trị trung bình, trung vị, giải thích đồ thị và lập luận về độ phân tán. Bruno và Espinel (2009), Espinel, Bruno và Plasencia (2008) ghi nhận khó khăn của giáo viên tương lai trong việc xây dựng và lý giải histogram. Makar và Confrey (2005), Jacobbe (2008), Jacobbe và Horton (2010) phân tích hạn chế của giáo viên về độ phân tán và đồ thị nâng cao. Gonzalez (2014) đề xuất khung năng lực dạy học thống kê (SKT) dựa trên MKT kết hợp yếu tố nhận thức và niềm tin.
- Nghiên cứu bài học (Lesson Study): Nguồn gốc Nhật Bản và phát triển toàn cầu (Lewis & Tsuchida, 1998; Stigler & Hiebert, 1999; Baba, 2007; Lewis, 2009; Murata, 2011). Các nghiên cứu của Arnold (2008), Burgess (2011), Nacarato và Grando (2014), Sanchez-Sanchez và Gomez-Blancarte (2015) khẳng định NCBH thúc đẩy kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành dạy học thống kê.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Dạy học xác suất – thống kê bậc đại học: Ngô Tất Hoạt (2011), Tạ Hữu Hiếu (2010), Trần Thị Hoàng Yến (2012), Phạm Thị Hồng Hạnh (2016), Võ Thị Huyền (2016), Đào Hồng Nam (2014), Nguyễn Thanh Tùng (2016), Hoàng Nam Hải (2013).
- Dạy học thống kê bậc phổ thông: Trần Đức Chiển (2007), Quách Huỳnh Hạnh (2005), Mai Đức Thắng (2006), Huỳnh Công Chức (2012), Phạm Thị Tú Hạnh (2012), Nguyen Thi Dieu và Le Thai Bao Thien Trung (2020).
- Phân tích chương trình và tri thức luận thống kê: Tăng Minh Dũng (2010), Lê Thị Hoài Châu (2014) chỉ rõ tri thức biểu đồ histogram bị trình bày mờ nhạt trong giáo trình đại học và sách giáo khoa hiện hành.
- Ứng dụng mô hình MKT: Lê Thị Thanh Hằng (2016), Trần Kiêm Minh và Lê Thị Bạch Liên (2008, 2018, 2020), Phuong và Minh (2018).
| Nhóm nghiên cứu |
Đại diện tiêu biểu |
Trọng tâm và giới hạn |
| Lý thuyết MKT & PCK |
Shulman (1986); Ball, Thames & Phelps (2008) |
Xác lập các thành phần kiến thức toán để dạy học; chủ yếu tập trung vào đại số/số học, ít chuyên biệt cho thống kê. |
| Kiến thức dạy học thống kê quốc tế |
Groth (2007); Gonzalez (2014); Sanchez-Sanchez & Gomez-Blancarte (2015) |
Phân tích SKT và tích hợp NCBH; mẫu nghiên cứu còn nhỏ (như Gonzalez nghiên cứu trên 4 giáo viên nam tại Nhật Bản). |
| Dạy học thống kê tại Việt Nam |
Quách Huỳnh Hạnh (2005); Mai Đức Thắng (2006); Huỳnh Công Chức (2012); Tăng Minh Dũng (2010) |
Tập trung vào khó khăn tính toán của học sinh hoặc phân tích sách giáo khoa; chưa đánh giá có hệ thống các kiểu kiến thức của GVTTL. |
| Vị trí của Luận án |
Nguyễn Thị Hà Phương (2022) |
Kết hợp mô hình MKT của Ball và cs. (2008) với quy trình NCBH của Lewis (2009) để đánh giá và phát triển 4 kiểu kiến thức (CCK, SCK, KCS, KCT) cho GVTTL trong dạy học thống kê. |
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án sử dụng hai khung lý thuyết nền tảng:
-
Mô hình Kiến thức toán để dạy học (MKT - Mathematical Knowledge for Teaching) của Ball, Thames và Phelps (2008):
- Kiến thức nội dung môn học (SMK):
- Kiến thức nội dung phổ biến (CCK): Kiến thức và kỹ năng toán học phổ thông, giải đúng bài toán, nhận diện câu trả lời sai của học sinh.
- Kiến thức nội dung đặc thù (SCK): Kiến thức toán học chuyên biệt chỉ phục vụ cho việc dạy (phân tích bản chất lỗi sai, biểu diễn hình học khái niệm, đánh giá nhiều cách giải).
- Kiến thức theo chiều ngang (HCK): Nhận thức về sự liên kết giữa các chủ đề trong chương trình toán phổ thông và giữa toán sơ cấp với toán cao cấp.
- Kiến thức nội dung sư phạm (PCK):
- Kiến thức về việc học của học sinh (KCS): Dự đoán quan niệm sai lầm, khó khăn, chướng ngại nhận thức của học sinh.
- Kiến thức về việc dạy (KCT): Thiết kế hoạt động, chuỗi câu hỏi dẫn dắt, lựa chọn ví dụ và phương pháp giảng dạy tối ưu.
- Kiến thức chương trình (KCC): Nắm rõ vị trí, mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chuẩn chương trình.
-
Mô hình Kiến thức thống kê để dạy học (SKT) của Gonzalez (2014): Tích hợp khía cạnh nhận thức (6 thành tố MKT) và phi nhận thức (niềm tin, quan niệm của giáo viên).
-
Quy trình Nghiên cứu bài học (Lesson Study): Luận án kế thừa mô hình của Lewis (2009), Baba (2007), Murata (2011) để đề xuất quy trình NCBH 4 bước:
- Bước 1: Thiết lập mục tiêu chung và xác định chủ đề.
- Bước 2: Lập kế hoạch bài học nghiên cứu (soạn giáo án chi tiết, dự đoán phản ứng/lỗi sai của học sinh).
- Bước 3: Thực hành giảng dạy trên lớp và quan sát thu thập dữ liệu.
- Bước 4: Phản ánh, thảo luận sau giờ dạy và điều chỉnh kế hoạch bài học.
[Bước 1: Thiết lập mục tiêu & Xác định chủ đề]
[Bước 2: Lập kế hoạch bài học]
[Bước 3: Thực hành giảng dạy & Quan sát]
[Bước 4: Phản ánh & Điều chỉnh]
Phương pháp nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (kết hợp định tính và định lượng), triển khai qua 4 thực nghiệm sư phạm:
| Thực nghiệm |
Nội dung khảo sát |
Công cụ thu thập dữ liệu |
Khách thể tham gia |
| Thực nghiệm 1 |
Đánh giá kiến thức dạy học biểu đồ cột và biểu đồ histogram |
Phiếu khảo sát 1 (bài tập trắc nghiệm & tự luận), Phiếu phỏng vấn bán cấu trúc |
Sinh viên Sư phạm Toán ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng (các mã: D40, D47, H09...) |
| Thực nghiệm 2 |
Đánh giá kiến thức dạy học các số đặc trưng đo xu thế trung tâm |
Phiếu khảo sát 2 (bài tập đánh giá câu trả lời của HS, giải thích), Phỏng vấn |
Sinh viên Sư phạm Toán ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng |
| Thực nghiệm 3 |
Đánh giá kiến thức dạy học độ phân tán của dữ liệu trên biểu đồ |
Phiếu khảo sát 3 (bài tập so sánh độ phân tán, dự đoán lỗi HS), Phỏng vấn |
Sinh viên Sư phạm Toán ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng (các mã: D61, H34...) |
| Thực nghiệm 4 |
Áp dụng NCBH để phát triển các kiểu kiến thức MKT |
Biên bản thảo luận nhóm, Kế hoạch bài dạy, Video tiết dạy, Biên bản phản ánh sau giờ dạy |
Nhóm GVTTL thực nghiệm dạy tại THPT Thuận Hóa (Huế) và THPT Nguyễn Trãi (Đà Nẵng) |
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu khảo sát được mã hóa theo các bộ chỉ số đánh giá thành phần kiến thức (CCK, SCK, KCS, KCT); dữ liệu phỏng vấn và video giờ dạy được phân tích định tính nhằm mô tả chi tiết sự tiến triển nhận thức và năng lực nghiệp vụ của GVTTL.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Đặt vấn đề nghiên cứu
Chương 1 tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức dạy học toán (Shulman, Fennema & Franke, Rowland, Ball và cộng sự), kiến thức dạy học thống kê (Garfield, Batanero, Groth, Gonzalez) và thực trạng dạy học thống kê tại Việt Nam. Tác giả đối sánh nội dung thống kê trong chương trình toán lớp 7, lớp 10 hiện hành với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018:
| Bậc học / Cấp lớp |
Chương trình hiện hành |
Chương trình GDPT 2018 |
| Tiểu học (Lớp 2 - 5) |
Bảng số liệu đơn giản, biểu đồ tranh, biểu đồ cột, số trung bình cộng (chiếm khoảng 3% thời lượng). |
Thu thập, phân loại, biểu đồ tranh, biểu đồ cột, hình quạt; hình thành nhận thức và tư duy thống kê thực tiễn. |
| THCS (Lớp 6 - 9) |
Lớp 7: Tần số, bảng tần số, biểu đồ đoạn thẳng, biểu đồ hình chữ nhật rời nhau, số trung bình cộng, mốt. |
Thu thập, biểu diễn bảng/biểu đồ dạng cột/cột kép, quạt tròn, đoạn thẳng; tần số tương đối, bảng và biểu đồ tần số tương đối ghép nhóm (histogram). |
| THPT (Lớp 10 - 12) |
Lớp 10 (Chương 5): Mẫu số liệu, bảng phân bố ghép lớp, biểu đồ tần số/tần suất hình cột (độ rộng lớp bằng nhau), đường gấp khúc, trung bình, trung vị, mốt, phương sai, độ lệch chuẩn. |
Hoàn thiện phân tích mẫu không ghép nhóm và ghép nhóm; số đặc trưng đo xu thế trung tâm (trung bình, trung vị, tứ phân vị, mốt) và đo độ phân tán (khoảng biến thiên, khoảng tứ phân vị, phương sai, độ lệch chuẩn). Chiếm khoảng 14% thời lượng. |
Chương này chỉ rõ bất cập trong chương trình đào tạo giáo viên hiện nay: đối tượng tri thức biểu đồ histogram chỉ được dạy ở trường hợp đặc biệt (các khoảng ghép có độ rộng bằng nhau), khiến sinh viên sư phạm không hiểu bản chất diện tích của cột biểu diễn tần số/tần suất trong trường hợp tổng quát.
Chương 2: Cơ sở lí thuyết
Trình bày chi tiết khung lý thuyết MKT của Ball và cộng sự (2008) với 6 thành phần kiến thức (CCK, SCK, HCK, KCS, KCT, KCC) và mô hình kiến thức thống kê để dạy học của Gonzalez (2014). Tác giả phân tích các quy trình NCBH quốc tế của Baba (2007), Lewis (2009), Murata (2011), từ đó đề xuất quy trình NCBH 4 bước phù hợp với việc bồi dưỡng GVTTL trong môi trường sư phạm Việt Nam.
Chương 3: Kiến thức của giáo viên để dạy học thống kê
Phân tích tri thức luận và lịch sử thống kê, làm rõ các khái niệm:
- Biểu đồ cột (bar chart) dùng cho biến định tính/rời rạc, các cột tách rời, chiều cao biểu diễn tần số.
- Biểu đồ histogram dùng cho biến định lượng liên tục ghép lớp, các cột liền kề, diện tích hình chữ nhật tỉ lệ với tần số hoặc tần suất.
- Mối quan hệ giữa hình dạng phân bố dữ liệu (đối xứng, lệch trái, lệch phải) với vị trí tương đối của ba số đặc trưng đo xu thế trung tâm:
- Phân bố đối xứng (chuẩn): $\text{Trung bình} \approx \text{Trung vị} \approx \text{Mốt}$.
- Phân bố lệch phải (lệch dương): $\text{Mốt} < \text{Trung vị} < \text{Trung bình}$.
- Phân bố lệch trái (lệch âm): $\text{Trung bình} < \text{Trung vị} < \text{Mốt}$.
- Xây dựng các bộ chỉ số đánh giá 4 thành phần kiến thức (CCK, SCK, KCS, KCT) cho từng chủ đề thống kê cụ thể và thiết lập các câu hỏi nghiên cứu chi tiết.
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày ngữ cảnh thực nghiệm tại Trường ĐHSP Huế, ĐHSP Đà Nẵng và hai trường phổ thông (THPT Thuận Hóa, THPT Nguyễn Trãi). Mô tả chi tiết cấu trúc phiếu khảo sát 1, 2, 3; phân tích tiên nghiệm các tình huống toán học; quy trình thu thập dữ liệu bằng phiếu khảo sát, phỏng vấn sâu, ghi hình bài dạy và biên bản sinh hoạt chuyên môn theo NCBH.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu
Phân tích chi tiết kết quả định lượng và định tính từ 4 thực nghiệm:
- Biểu đồ cột và histogram: Đa số GVTTL ban đầu có CCK đúng ở mức độ nhận biết cơ bản nhưng thiếu hụt SCK trầm trọng (không giải thích được vì sao diện tích hình chữ nhật trong histogram lại biểu thị tần số khi độ rộng các lớp không bằng nhau). Trong KCS, GVTTL không lường trước được việc học sinh nhầm lẫn giữa trục hoành và trục tung hoặc xem histogram như biểu đồ cột. Qua NCBH, GVTTL đã biết thiết kế bài toán so sánh diện tích để học sinh tự phát hiện bản chất (tiến triển KCT).
- Các số đặc trưng đo xu thế trung tâm: GVTTL ban đầu chỉ biết tính giá trị trung bình bằng công thức đại số (CCK), gặp khó khăn khi ước lượng trung vị và trung bình trực quan trên biểu đồ phân bố lệch (SCK). Sau khi tham gia chu trình NCBH, GVTTL đã chuyển đổi từ việc dạy thuật toán thuần túy sang tổ chức hoạt động phân tích ý nghĩa thống kê của trung vị khi dữ liệu có giá trị ngoại lai.
- Độ phân tán của dữ liệu: Kết quả khảo sát chỉ ra GVTTL ít hiểu biết về độ phân tán thể hiện qua độ rộng phân bố trên biểu đồ, thường nhầm lẫn độ phân tán với độ cao của các cột. Qua NCBH, GVTTL đã biết sử dụng các biểu đồ có cùng giá trị trung bình nhưng độ phân tán khác nhau để dẫn dắt học sinh hiểu ý nghĩa của phương sai và độ lệch chuẩn.
Chương 6: Lí giải, bàn luận và kết luận
Tổng hợp, lý giải nguyên nhân sự tiến triển kiến thức của GVTTL qua từng chu kỳ NCBH. Tác giả đề xuất mô hình tích hợp MKT và NCBH trong chương trình đào tạo giáo viên toán tại các trường đại học sư phạm, đồng thời chỉ ra các đóng góp, hạn chế và hướng phát triển của đề tài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Cụ thể hóa mô hình MKT trong dạy học thống kê: Vận dụng và tinh chỉnh khung lý thuyết MKT của Ball, Thames và Phelps (2008) vào bối cảnh giáo dục thống kê tại Việt Nam, làm rõ nội hàm của 4 thành tố cốt lõi (CCK, SCK, KCS, KCT) đối với ba đối tượng tri thức: biểu đồ thống kê, số đo xu thế trung tâm và độ phân tán.
- Xây dựng bộ chỉ số đánh giá kiến thức dạy học thống kê: Thiết lập hệ thống tiêu chí và bài tập tình huống sư phạm chuẩn hóa giúp đo lường định tính và định lượng năng lực kiến thức nghề nghiệp của giáo viên toán đối với mạch thống kê.
- Mô hình hóa quy trình NCBH hướng đích MKT: Xây dựng quy trình NCBH 4 bước đóng vai trò như một môi trường can thiệp sư phạm, kết nối giữa tri thức lý thuyết và thực hành dạy học trên lớp.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Nhận diện thực trạng kiến thức của GVTTL: Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về những ngộ nhận phổ biến của sinh viên sư phạm Toán (nhầm lẫn giữa biểu đồ cột và histogram, thiếu hiểu biết về bản chất diện tích; lúng túng khi so sánh trung bình, trung vị, mốt trên biểu đồ lệch; quy độ phân tán về chiều cao cột thay vì độ trải rộng của dữ liệu).
- Minh chứng hiệu quả của NCBH trong đào tạo ban đầu: Chứng minh rằng làm việc hợp tác, cùng soạn bài, dự giờ, quan sát phản ứng của học sinh và thảo luận phản ánh giúp GVTTL chuyển hóa mạnh mẽ từ kiến thức nội dung phổ biến (CCK) sang kiến thức nội dung đặc thù (SCK) và kiến thức nội dung sư phạm (KCS, KCT).
- Đề xuất đổi mới chương trình đào tạo giáo viên: Kiến nghị bổ sung nội dung tri thức luận thống kê chuyên sâu vào học phần Xác suất – Thống kê và đổi mới phương pháp giảng dạy học phần Lý luận và Phương pháp dạy học môn Toán theo định hướng NCBH tại các trường đại học sư phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Quy mô và địa bàn nghiên cứu: Mẫu khảo sát và thực nghiệm mới chỉ thực hiện trên sinh viên sư phạm Toán của hai cơ sở đào tạo (ĐHSP Huế, ĐHSP Đà Nẵng) và hai trường phổ thông (THPT Thuận Hóa, THPT Nguyễn Trãi), chưa mở rộng ra các vùng miền khác trên cả nước.
- Phạm vi nội dung kiến thức: Nghiên cứu chỉ tập trung sâu vào ba chủ đề thống kê (biểu đồ cột/histogram, xu thế trung tâm, độ phân tán) và bốn thành phần kiến thức MKT (CCK, SCK, KCS, KCT); hai thành phần HCK (kiến thức theo chiều ngang) và KCC (kiến thức chương trình) chưa được khảo sát độc lập ở mức độ sâu.
- Đối tượng khảo sát: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào giáo viên toán tương lai (sinh viên sư phạm), chưa có điều kiện khảo sát đối sánh sâu rộng trên đội ngũ giáo viên toán đang trực tiếp giảng dạy tại các trường THPT.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng khảo sát và ứng dụng quy trình NCBH cho giáo viên toán đương nhiệm tại nhiều tỉnh thành nhằm phục vụ công tác bồi dưỡng thường xuyên theo Chương trình GDPT 2018.
- Nghiên cứu phát triển MKT cho các mạch kiến thức xác suất và thống kê suy diễn phức tạp hơn ở bậc THPT (như xác suất có điều kiện, biến ngẫu nhiên, quy luật phân bố xác suất).
- Nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa niềm tin, quan niệm toán học của giáo viên (khía cạnh phi nhận thức) và sự hình thành năng lực tư duy thống kê của học sinh.
Giá trị tham khảo
- Đối với giảng viên và các cơ sở đào tạo giáo viên (Đại học Sư phạm): Là tài liệu tham khảo để điều chỉnh đề cương học phần Xác suất – Thống kê, học phần Phương pháp dạy học môn Toán và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; cung cấp hệ thống bài tập tình huống thực hành nghề nghiệp gắn với NCBH.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học / LL&PPDH môn Toán: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa mô hình MKT và Lesson Study, hệ thống công cụ khảo sát, phiếu phân tích tiên nghiệm và bộ chỉ số mã hóa dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực.
- Đối với giáo viên toán THCS và THPT: Cung cấp tài liệu nhận diện các sai lầm, chướng ngại nhận thức điển hình của học sinh khi học thống kê, từ đó thiết kế các hoạt động dạy học trực quan, giúp học sinh nắm vững bản chất tri thức thống kê theo yêu cầu Chương trình GDPT 2018.
- Đối với cán bộ quản lý chuyên môn và chỉ đạo giáo dục: Cung cấp cơ sở thực tiễn để tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại các tổ/nhóm chuyên môn trường phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung lý thuyết MKT của Ball và cộng sự (2008) phân định các kiểu kiến thức của giáo viên như thế nào?
Khung MKT phân chia kiến thức thành hai lĩnh vực chính:
- Kiến thức nội dung môn học (SMK) gồm: Kiến thức nội dung phổ biến (CCK), Kiến thức nội dung đặc thù (SCK), và Kiến thức theo chiều ngang (HCK).
- Kiến thức nội dung sư phạm (PCK) gồm: Kiến thức về việc học của học sinh (KCS), Kiến thức về việc dạy (KCT), và Kiến thức chương trình (KCC).
2. Điểm khác biệt bản chất giữa biểu đồ cột và biểu đồ histogram được luận án làm rõ là gì?
Biểu đồ cột dùng để biểu diễn biến rời rạc/định tính, các cột cách rời nhau và chiều cao của cột tỉ lệ thuận với tần số/tần suất. Ngược lại, biểu đồ histogram biểu diễn biến liên tục ghép lớp, các cột liền kề nhau và bản chất toán học là diện tích của hình chữ nhật tỉ lệ thuận với tần số/tần suất của lớp ghép đó (trong trường hợp độ rộng các lớp ghép không bằng nhau, chiều cao cột không còn tỉ lệ với tần số).
3. Vị trí tương đối của trung bình, trung vị và mốt phụ thuộc vào hình dạng phân bố dữ liệu như thế nào?
- Khi phân bố đối xứng (chuẩn): Giá trị Trung bình, Trung vị và Mốt xấp xỉ bằng nhau ($\text{Mean} \approx \text{Median} \approx \text{Mode}$).
- Khi phân bố lệch phải (lệch dương, đuôi dài về bên phải): $\text{Mode} < \text{Median} < \text{Mean}$.
- Khi phân bố lệch trái (lệch âm, đuôi dài về bên trái): $\text{Mean} < \text{Median} < \text{Mode}$.
4. Quy trình nghiên cứu bài học (NCBH) đề xuất trong luận án gồm những bước nào?
Quy trình gồm 4 bước liên hoàn:
- Bước 1: Thiết lập mục tiêu chung và xác định chủ đề bài học.
- Bước 2: Lập kế hoạch bài học nghiên cứu (thiết kế giáo án, dự kiến khó khăn và phản ứng của học sinh).
- Bước 3: Thực hành giảng dạy bài học trên lớp thực nghiệm và quan sát thu thập dữ liệu.
- Bước 4: Phản ánh, thảo luận rút kinh nghiệm sau giờ dạy và điều chỉnh kế hoạch bài học.
5. Thực nghiệm của luận án được triển khai tại những địa bàn và cơ sở giáo dục nào?
Thực nghiệm khảo sát và can thiệp sư phạm được thực hiện trên sinh viên ngành Sư phạm Toán tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng; các tiết dạy thực nghiệm bài học nghiên cứu được tiến hành trên học sinh Trường THPT Thuận Hóa (thành phố Huế) và Trường THPT Nguyễn Trãi (thành phố Đà Nẵng).
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Hà Phương đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc đánh giá và phát triển kiến thức toán để dạy học thống kê cho giáo viên toán tương lai tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp mô hình MKT của Ball và cộng sự (2008) với phương pháp nghiên cứu bài học (Lewis, 2009), công trình đã chỉ rõ thực trạng thiếu hụt kiến thức đặc thù (SCK) và kiến thức sư phạm (KCS, KCT) của sinh viên sư phạm đối với các chủ đề biểu đồ thống kê, xu thế trung tâm và độ phân tán. Kết quả thực nghiệm khẳng định quy trình nghiên cứu bài học 4 bước là công cụ can thiệp sư phạm hiệu quả giúp nâng cao năng lực nghề nghiệp cho giáo viên tương lai, đáp ứng trực tiếp yêu cầu đổi mới của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.